vanban.org

Quyết định 189/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị Hoa H:

Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Phạm Thị Hoa H được ly hôn với ông Lương Quốc B. Giấy chứng nhận kết hôn số 152, quyển số I/2015 do Ủy ban nhân dân xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 27/11/2015 không còn giá trị pháp lý kể từ ngày bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn giữa bà H và ông B"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị Hoa H:
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CỦ CHI
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 189/2021/HNGĐ-ST
Ngày 08 - 3 - 2021
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Phẹo.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Phước Trinh;

2. Bà Phạm Thị Ngọc.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hồng Thủy - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Không có.

Ngày 08 tháng 3 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Củ Chi xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 990/2020/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 10 năm 2020 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 27/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 01 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 59/2021/QĐST-HNGĐ ngày 08 tháng 02 năm 2021, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Phạm Thị Hoa H, sinh năm 1982 (có mặt).

Thường trú: Số 591, tổ 6, ấp P, xã P, huyện D, tỉnh Tây Ninh.

Tạm trú: Ấp S, xã A, Huyện T, tỉnh Tây Ninh.

- Bị đơn: Ông Lương Quốc B, sinh năm 1984 (vắng mặt).

Địa chỉ: Số 81 đường 176, ấp 4A, xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn xin ly hôn nộp ngày 07/8/2020, bản tự khai, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là bà Phạm Thị Hoa H trình bày:

Bà và ông B tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận đăng kí kết hôn số 152, quyển số I/2015 do Ủy ban nhân dân xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 27/11/2015. Sau khi kết hôn, ông bà không sống chung. Bà H đi làm tại ấp S, xã A, huyện T, tỉnh Tây Ninh. Ông B sống tại nhà chồng ở ấp 4A, xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà H đi làm cuối tuần về thăm chồng, thứ hai đầu tuần lên làm lại. Sau một khoảng thời gian chung sống với nhau, bà nhận thấy giữa bà và ông Bình có nhiều sự khác biệt và cách sống và quan điểm sống, thường xảy ra mâu thuẫn dẫn đến tình cảm vợ chồng không còn được hạnh phúc, ông B hay ghen, rượu chè, không chịu làm ăn và không thăm bà. Sau nhiều lần khuyên giải nhưng không thành. Vợ chồng bà ly thân từ tháng 11/2019 cho đến nay. Nay bà nhận thấy không còn tiếng nói chung nên đời sống của bà và ông B không thể hòa hợp. Bà yêu cầu được ly hôn ông B.

- Về con chung: Không có con chung.

- Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nghĩa vụ dân sự chung: Bà H trình bày không có.

* Tại bản tự khai ngày 01/7/2020, bà H trình bày:

Ngày 27/11/2015, bà kết hôn với ông Lương Quốc B. Sau khi kết hôn được 04 năm thì thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, bất đồng quan điểm. Nguyên nhân phát sinh do chúng tôi cưới nhau hơn 04 năm mà ông B không lo làm ăn, ăn nhậu, ghen tuông, thường hay gây sự, dẫn đến tình cảm vợ chồng không còn được hạnh phúc. Nay bà nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn. Bà xin được ly hôn với ông B để bà được ổn định cuộc sống và đi làm.

- Về tài sản chung: Bà H trình bày không có tài sản chung và không yêu cầu tòa án phân chia.

Ông Lương Quốc B đã được Tòa án tống đạt thông báo thụ lý vụ án, thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định xét xử và quyết định hoãn phiên tòa nhưng ông B vẫn không đến Tòa để giải quyết vụ án. Do đó, Tòa quyết định đưa vụ án ra xét xử vắng mặt đối với ông B.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa và các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Tại đơn xin ly hôn nộp ngày 07/8/2020, bà Phạm Thị Hoa H yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Củ Chi giải quyết cho bà ly hôn với ông Lương Quốc B hiện đang cư trú tại: Số 81 đường 176, ấp 4A, xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. Đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Củ Chi theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về thủ tục tố tụng: Ông Lương Quốc B đã được Tòa án tống đạt thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử và quyết định hoãn phiên tòa nhưng ông Bình vẫn không đến để tham gia phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định vẫn tiến hành xét xử vắng mặt ông Lương Quốc B theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về quan hệ hôn nhân:

Bà Phạm Thị Hoa H và ông Lương Quốc B tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 152, quyển số I/2015 do Ủy ban nhân dân xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 27/11/2015. Đây là hôn nhân hợp pháp.

Xét lời trình bày của bà Phạm Thị Hoa H thì sau kết hôn giữa bà và ông B đã có nhiều khác biệt về cách sống và quan điểm sống, đã không cảm thấy hạnh phúc. Nguyên nhân do bà và ông B cưới nhau hơn 04 năm mà ông B không lo làm ăn, ăn nhậu, ghen tuông, thường hay gây sự, dẫn đến tình cảm vợ chồng không còn được hạnh phúc nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông B.

Ông B đã được Tòa triệu tập nhưng ông không đến Tòa, đồng thời cũng không gửi văn bản trình bày ý kiến chứng tỏ ông không muốn hàn gắn quan hệ vợ chồng, không có giải pháp đoàn tụ.

Xét mâu thuẫn vợ chồng giữa bà H và ông B đã đến mức trầm trọng, không thể hàn gắn quan hệ vợ chồng, mục đích hôn nhân không đạt. Do đó, Hội đồng xét xử có cơ sở chấp nhận cho bà H được ly hôn với ông B theo quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Về con chung: Bà H trình bày không có con chung.

Về tài sản chung: Bà H trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nghĩa vụ dân sự chung: Bà H trình bày không có.

Ông Lương Quốc B vắng mặt tại phiên tòa. Do đó, nếu ông B có tranh chấp về tài sản chung và nghĩa vụ dân sự chung thì sẽ giải quyết ở vụ án khác.

Về nghĩa vụ chịu án phí sơ thẩm: Căn cứ Luật Phí và Lệ phí năm 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xét buộc bà Phạm Thị Hoa H phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 273 và Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ vào Điều 9, Điều 53, Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

- Căn cứ vào Điều 6, Điều 7, Điều 26, Điều 30, Điều 31 và Điều 32 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008;

- Căn cứ vào Luật Phí và Lệ phí năm 2015;

- Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị Hoa H:

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Phạm Thị Hoa H được ly hôn với ông Lương Quốc B.

Giấy chứng nhận kết hôn số 152, quyển số I/2015 do Ủy ban nhân dân xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 27/11/2015 không còn giá trị pháp lý kể từ ngày bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

2. Về con chung: Không có.

3. Về tài sản chung: Bà H trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về nghĩa vụ dân sự chung: Bà H trình bày không có.

Nếu ông B có tranh chấp về tài sản chung và nghĩa vụ dân sự chung thì sẽ giải quyết ở vụ án khác.

5. Về án phí sơ thẩm: Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng bà Phạm Thị Hoa H phải chịu, được trừ vào tiền tạm ứng án phí là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng bà H đã nộp theo biên lai thu tiền số AA/2019/0084634 ngày 01/10/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Củ Chi.

Thi hành tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

6. Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Cỡ chữ