- Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về tài sản — án dân sự — "Tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do tài sản bị xâm phạm"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của các nguyên đơn bà Phạm Thị C, bà Phạm Thị Ngọc A.
- Căn cứ chính? Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 218 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 219 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 188/2024/QĐ-PT | Bến Tre, ngày 07 tháng 3 năm 2024 |
QUYẾT ĐỊNH
GIẢI QUYẾT VIỆC KHÁNG CÁO ĐỐI VỚI
QUYẾT ĐỊNH ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE
Với Hội đồng phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Lê Minh Đạt
Các Thẩm phán:
Ông Bùi Quang Sơn
Ông Nguyễn Thế Hồng
- Thư ký phiên họp: Bà Phạm Thị Yến Mai – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre tham gia phiên họp: Bà Trần Thị Kim Ngân - Kiểm sát viên.
Tại Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 139/2023/QĐST-DS ngày 30/11/2023, Tòa án nhân dân huyện T đã căn cứ vào các Điều 217, 218, 219, 235 và khoản 2 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự về việc “Tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do tài sản bị xâm phạm”, giữa:
* Nguyên đơn:
1. Bà Phạm Thị C, sinh năm 1944;
2. Bà Phạm Thị Ngọc A, sinh năm 1956;
- Người đại diện theo ủy quyền của các nguyên đơn: Bà Phạm Thị T, sinh năm 1973;
Cùng địa chỉ: Số 573 ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Bến Tre.
* Bị đơn:
1. Ông Võ Văn T, sinh năm 1960;
2. Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1962;
Cùng địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Bến Tre.
Tại đơn kháng cáo đề ngày 08/12/2023, nguyên đơn bà Phạm Thị C, bà Phạm Thị Ngọc A đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa Quyết định số 139/2023/QĐST-DS ngày 30/11/2023 của Tòa án nhân dân huyện T từ đình chỉ giải quyết vụ án dân sự thành tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự.
Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre tham gia phiên họp phát biểu ý kiến: Đề nghị Hội đồng phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Phạm Thị C, bà Phạm Thị Ngọc A. Giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 139/2023/QĐST-DS ngày 30/11/2023 của Tòa án nhân dân huyện T.
XÉT THẤY:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên, xét kháng cáo của nguyên đơn bà Phạm Thị C, bà Phạm Thị Ngọc A, Hội đồng phúc thẩm nhận định:
Ngày 17/8/2023, Tòa án nhân dân huyện T ban hành Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 298/2023/QĐXXST-DS mở phiên tòa vào lúc 13 giờ 30 phút ngày 08/9/2023.
Bà T là người đại diện theo ủy quyền của các nguyên đơn bà Phạm Thị C, bà Phạm Thị Ngọc A. Do bà T có khiếu nại nên ngày 06/9/2023, Tòa án nhân dân huyện T ban hành Thông báo số 01/TB-TA dời ngày xét xử sơ thẩm vụ án.
Ngày 16/10/2023, Tòa án nhân dân huyện T ban hành Thông báo số 01/TB-TA về thời gian mở lại phiên tòa vào lúc 13 giờ 30 phút ngày 31/10/2023.
Ngày 31/10/2023, do vắng mặt người làm chứng là bà Nguyễn Thị Tuyết H, bà Nguyễn Thị C nên Hội đồng xét xử đã quyết định hoãn phiên tòa và ấn định thời gian mở lại phiên tòa vào lúc 13 giờ 30 phút ngày 10/11/2023. Quyết định hoãn phiên tòa và giấy triệu tập tham gia phiên tòa đều được Tòa án tống đạt hợp lệ cho bà T.
Căn cứ Biên bản phiên tòa sơ thẩm vào lúc 14 giờ 00 phút ngày 10/11/2023, sau khi Chủ tọa phiên tòa tuyên bố khai mạc phiên tòa thì bà T nộp các tài liệu chứng cứ rồi tự ý bỏ về, không đồng ý tham gia phiên tòa mặc dù đã được Hội đồng xét xử giải thích. Sau khi nghị án, Hội đồng xét xử đã quyết định hoãn phiên tòa và ấn định thời gian mở lại phiên tòa là vào lúc 13 giờ 30 phút ngày 30/11/2023. Quyết định hoãn phiên tòa và giấy triệu tập tham gia phiên tòa đều được Tòa án tống đạt hợp lệ cho bà T.
Vào lúc 13 giờ 30 phút ngày 30/11/2023, Tòa án nhân dân huyện T mở lại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án. Căn cứ Biên bản phiên tòa sơ thẩm vào lúc 14 giờ 00 phút ngày 30/11/2023, sau khi Chủ tọa phiên tòa yêu cầu bà T trình bày nội dung khởi kiện thì bà T tiếp tục nộp các tài liệu, chứng cứ rồi tự ý bỏ về, mặc dù đã được Hội đồng xét xử giải thích nhưng bà T vẫn không đồng ý tham gia phiên tòa. Sau khi nghị án, Hội đồng xét xử đã quyết định đình chỉ giải quyết vụ án.
Bà T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng bà T vẫn không tham gia phiên tòa xét xử. Do đó, căn cứ vào các Điều 217, 218, 219, 235 và khoản 2 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện T ban hành Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 139/2023/QĐST-DS ngày 30/11/2023 là đúng quy định nên kháng cáo của nguyên đơn bà Phạm Thị C, bà Phạm Thị Ngọc A về việc đề nghị sửa Quyết định số 139/2023/QĐST-DS ngày 30/11/2023 của Tòa án nhân dân huyện T từ đình chỉ giải quyết vụ án dân sự thành tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự là không có cơ sở nên không được chấp nhận.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng phúc thẩm nên được chấp nhận.
Do kháng cáo không được chấp nhận nên bà Phạm Thị C, bà Phạm Thị Ngọc A phải chịu án phí phúc thẩm. Tuy nhiên, bà C và bà A thuộc trường hợp người cao tuổi nên được miễn án phí.
Căn cứ vào Điều 314 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Không chấp nhận kháng cáo của các nguyên đơn bà Phạm Thị C, bà Phạm Thị Ngọc A.
Giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 139/2023/QĐST-DS ngày 30/11/2023 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Bến Tre.
2. Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Phạm Thị C, bà Phạm Thị Ngọc A được miễn nộp.
3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Bến Tre (1b); - TAND huyện T(1b); - Chi cục THADS huyện T(1b); - Phòng KTNV và THA; VP (3b); - Các đương sự (3b); - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Lê Minh Đạt |