vanban.org

Quyết định 188/2020/QĐST-DS — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TAND huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp Tuyên án 11/12/2020 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự thụ lý số: 368/2020/TLST-DS ngày 20 tháng 10 năm 2020, về việc: “Đòi lại tài sản”, giữa:

Nguyên đơn: anh Đỗ Anh T, sinh năm: 1986. Địa chỉ: phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "đòi lại tài sản"
  • Tòa quyết gì? Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự thụ lý số: 368/2020/TLST-DS ngày 20 tháng 10 năm 2020, về việc: “Đòi lại tài sản”, giữa:
  • Căn cứ chính? Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 218 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 219 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TAM NÔNG
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 188/2020/QĐST-DSTam Nông, ngày 11 tháng 12 năm 2020

QUYẾT ĐỊNH

ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ

Căn cứ vào các Điều 48, 217, 218, 219 và khoản 2 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án dân sự sơ thẩm;

Xét thấy: Khi khởi kiện, người khởi kiện anh Đỗ Anh T đã ghi đầy đủ địa chỉ của người bị kiện anh Phạm Minh Hải tại ấp Khóm B, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án không thể tống đạt được văn bản tố tụng cho bị đơn theo địa chỉ ghi trong đơn khởi kiện, nên đã tiến hành thu thập, xác minh địa chỉ thì Công an thị trấn T có xác nhận ngày 29/10/2020 “Đương sự Phạm Minh H sinh năm: 1981 có đăng ký hộ khẩu thường trú tại Khóm B, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp nhưng không có mặt tại địa phương”. Tòa án nhân dân huyện Tam Nông có Thông báo cho anh T yêu cầu cung cấp địa chỉ (Thông báo số 26/TB-TA ngày 09/11/2020), đến ngày 12/11/2020 Tòa án nhân dân huyện Tam Nông nhận được đơn yêu cầu xác minh địa chỉ của bị đơn ngày 11/11/2020 của anh Đỗ Anh T, nội dung “Nay tôi yêu cầu TAND huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp phối hợp với cơ quan có thẩm quyền tại địa phương xác minh địa chỉ mới của bị đơn…”, sau khi nhận đơn yêu cầu của anh T Tòa án nhân dân huyện Tam Nông có công văn số 27/CV-TA ngày 12/11/2020 gửi Công an thị trấn T kết quả xác minh như sau “Phạm Minh H, SN: 1981. Hiện tại không có mặt tại địa phương từ năm 2018 đến nay (tháng 11 năm 2020). Hiện tại đương sự H sinh sống ở đâu làm gì không rõ”, ngày 24/11/2020 Tòa án nhân dân huyện Tam Nông làm việc với chị Phạm Ngọc T (chị ruột của anh H) chị T có ý kiến xác minh “….anh H bỏ địa phương mấy năm nay rồi, từ năm 2018….., không rõ đi đâu, không liên lạc với gia đình”. Tòa án có văn bản yêu cầu anh T cung cấp địa chỉ mới của bị đơn đang sinh sống (Thông báo số 28/TB-TA ngày 24/11/2020) đến nay nguyên đơn không cung cấp được. Do đó, Tòa án không xác định được địa chỉ mới của bị đơn nên đình chỉ giải quyết vụ án là phù hợp theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 6 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/05/2017 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 217 của Bộ luật tố tụng dân sự

QUYẾT ĐỊNH:

1. Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự thụ lý số: 368/2020/TLST-DS ngày 20 tháng 10 năm 2020, về việc: “Đòi lại tài sản”, giữa:

- Nguyên đơn: anh Đỗ Anh T, sinh năm: 1986.

Địa chỉ: phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai.

- Bị đơn: anh Phạm Minh H, sinh năm: 1981.

Địa chỉ: Khóm B, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

2. Hậu quả của việc đình chỉ giải quyết vụ án:

- Đương sự được quyền khởi kiện lại vụ án dân sự nêu trên theo quy định pháp luật.

- Tòa án trả lại đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ kèm theo cho đương sự (nếu có yêu cầu).

- Hoàn trả lại cho anh Đỗ Anh T số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0010442, quyển số 0209, ngày 20/10/2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp.

3. Đương sự, anh Đỗ Anh T có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Cỡ chữ