vanban.org

Quyết định 1810/2019/QĐ-PQTT — Yêu cầu liên quan việc trọng tài thương mại Việt Nam giải quyết tranh chấp theo quy định của pháp luật về Trọng tài thương mại

TAND TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 28/11/2019 Kinh doanh thương mại Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không hủy Phán quyết trọng tài Vụ tranh chấp số 36/19 HCM của Hội

đồng Trọng tài thuộc Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam lập ngày 24/8/2019 giải quyết tranh chấp về yêu cầu bồi thường thiệt hại và phạt vi phạm hợp đồng giữa: Nguyên đơn: Bà Hoàng Thị Kim P Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Yêu cầu liên quan việc trọng tài thương mại Việt Nam giải quyết tranh chấp theo quy định của pháp luật về Trọng tài thương mại — án kinh doanh thương mại — "HỦY PHÁN QUYẾT TRỌNG TÀI"
  • Tòa quyết gì? Không hủy Phán quyết trọng tài Vụ tranh chấp số 36/19 HCM của Hội
  • Căn cứ chính? Điều 71 Luật Trọng tài thương mại
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số:1810/2019/QĐ-PQTTThành phố Hồ Chí Minh, ngày 28 tháng 11 năm 2019

QUYẾT ĐỊNH

VỀ VIỆC HỦY PHÁN QUYẾT TRỌNG TÀI

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với Hội đồng xét đơn yêu cầu gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa: Bà Hà Thanh Thủy

Các Thẩm phán:

Ông Lê Công Toại

Ông Ngô Văn Dũng

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên họp: Bà Huỳnh Thúy Ngân- Thư ký

Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên họp: Ông

Trần Anh Tuấn - Kiểm sát viên.

Căn cứ vào Điều 71 Luật Trọng tài thương mại;

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ kèm theo đơn yêu cầu hủy phán quyết

trọng tài như sau: Phán quyết trọng tài Vụ tranh chấp số 36/19 HCM của Hội đồng Trọng tài thuộc Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam lập ngày 24/8/2019; Hợp đồng mua bán căn hộ chung cư Số 68/HĐMB/2016 ngày 16/6/2016 (kèm theo phụ lục 02); Hợp đồng thi công hoàn thiện căn hộ số 66A/HĐ/2016 ngày 16/6/2016 (kèm theo phụ lục 02A); Phụ lục Hợp đồng (nhà ở xã hội) ngày 04/6/2017;

Sau khi xem xét Đơn yêu cầu hủy phán quyết trọng tài đề ngày 03/9/2019

của Công ty TNHH Đầu tư Bất động sản TB; Đơn yêu cầu hủy phán quyết trọng tài đề ngày 03/9/2019 của Công ty Cổ phần Xây dựng và Phát triển CN và Đơn yêu cầu hủy phán quyết trọng tài đề ngày 03/9/2019 của ông Đỗ VT, cả ba đồng là Bị đơn;

Phán quyết trọng tài Vụ tranh chấp số 36/19HCM của Hội đồng Trọng tài

thuộc Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam lập ngày 24/8/2019 tại Thành phố Hồ Chí Minh giải quyết tranh chấp về yêu cầu bồi thường thiệt hại và phạt vi phạm hợp đồng giữa:

- Nguyên đơn: Bà Hoàng Thị Kim P;

Địa chỉ: số 9 PVS, Phường M, quận T, TP.Hồ Chí Minh

- Các Bị đơn:

1. Công ty TNHH Đầu tư Bất động sản TB

Địa chỉ: 58 HBD, Phường M, quận T, TP. Hồ Chí Minh.

2. Công ty Cổ phần Xây dựng và Phát triển CN

Địa chỉ: 75/3 CL, Phường M, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

3.Ông Đỗ VT

Địa chỉ: Căn A 14, Khu Biệt thự GH, số 7/280 Quốc lộ M, Phường N,

quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Tranh chấp về yêu cầu bồi thường thiệt hại và phạt vi phạm hợp đồng. Cụ

thể: Nguyên đơn yêu cầu Công ty TNHH Đầu tư Bất động sản TB và Công ty Cổ phần Xây dựng và Phát triển CN liên đới bồi thường thiệt hại là 165.000.000 đồng và phạt vi phạm hợp đồng là 279.516.002 đồng. Ngoài ra, Nguyên đơn còn yêu cầu ông Đỗ VT thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh toàn bộ số tiền nêu trên.

Phán quyết trọng tài Vụ tranh chấp số 36/19 HCM của Hội đồng Trọng tài

thuộc Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam lập ngày 24/8/2019 đã quyết định như sau: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn.

XÉT THẤY:

Về thời hạn nộp đơn yêu cầu hủy phán quyết trọng tài: Phán quyết trọng

tài số 36/19 HCM được lập vào ngày 24/8/2019. Ngày 06/9/2019, các Bị đơn cùng nộp đơn yêu cầu hủy phán quyết trọng tài là còn trong thời hạn theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật Trọng tài thương mại.

Về căn cứ yêu cầu hủy phán quyết trọng tài, Hội đồng xét đơn yêu cầu

nhận định về lý do mà các Bị đơn trình bày để yêu cầu hủy phán quyết trọng tài như sau:

1. Các Bị đơn cho rằng phán quyết trọng tài trái với các nguyên tắc cơ bản

của pháp luật Việt Nam;

Hội đồng xét đơn yêu cầu xét thấy, lý do của Bị đơn nêu ra để cho rằng

phán quyết trọng tài trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam thực chất là các Bị đơn đề cập đến nhận định của Phán quyết Trọng tài về các Hợp đồng do các bên ký kết. Đây là phần liên quan đến nội dung giải quyết tranh chấp của Hội đồng trọng tài; mà theo quy định tại khoản 4 Điều 71 Luật Trọng tài thương mại thì Tòa án không xét xử lại nội dung vụ tranh chấp mà Hội đồng trọng tài đã giải quyết. Vì vậy, lý do nêu trên của Bị đơn để yêu cầu hủy phán quyết trọng tài là không có căn cứ để chấp nhận.

2. Các Bị đơn cho rằng “Không có thỏa thuận Trọng tài” của ông Đỗ VT

đối với “Quan hệ bảo lãnh”;

Hội đồng xét đơn yêu cầu xét thấy, tại Điều 6 của Phụ lục Hợp đồng (nhà ở

xã hội) ký ngày 04/6/2017 quy định về Giải quyết tranh chấp có ghi “Bên A và Bên B đồng ý làm rõ nơi giải quyết tranh chấp được quy định tại Điều 17 quy định trong hợp đồng như sau: Bất kể các tranh chấp phát sinh từ thỏa thuận này, hoặc từ Hợp đồng mua bán căn hộ và Hợp đồng hoàn thiện, các bên có thể giải quyết với nhau bằng thương lượng hoặc hòa giải. Trường hợp không thành, các bên có thể đệ trình vụ tranh chấp để được giải quyết tại Tòa án hoặc Trọng tài. Nếu vụ tranh chấp được giải quyết tại Trọng tài, các Bên đồng ý rằng nơi giải quyết sẽ là Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam, bên cạnh Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, theo thủ tục rút gọn tại Quy tắc của Trung tâm này”. Tại Điều 5 của Phụ lục hợp đồng có nêu về “Bảo lãnh việc thực hiện hợp đồng” trong đó ghi nhận ông Đỗ VT là bên bảo lãnh của bên A (bao gồm Công ty TNHH Đầu tư Bất động sản TB và Công ty Cổ phần Xây dựng và Phát triển CN). Như vậy, “Bất kể các tranh chấp phát sinh từ thỏa thuận này” trong đó bao gồm cả Điều 5 nêu trên được ghi nhận trong Phụ lục Hợp đồng (nhà ở xã hội) ký ngày 04/6/2017 cũng bị Nguyên đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp về việc bảo lãnh của ông Đỗ VT. Hơn nữa, các Bên trong trong Phụ lục Hợp đồng (nhà ở xã hội) ký ngày 04/6/2017 có chữ ký của Bên A (bao gồm Công ty TNHH Đầu tư Bất động sản TB và Công ty Cổ phần Xây dựng và Phát triển CN đều do ông Đỗ VT là Người đại diện theo pháp luật của hai công ty này ký), Bên B là bà P và Bên bảo lãnh là ông Đỗ VT cùng ký trong phụ lục này. Điều này thể hiện ý chí của cá nhân ông Đỗ VT đã thỏa thuận ngoài việc bảo lãnh thì còn có thỏa thuận cả về thẩm quyền giải quyết của Trọng tài khi có tranh chấp về bảo lãnh. Như vậy, Hội đồng trọng tài khi giải quyết tranh chấp giữa Nguyên đơn và các Bị đơn trong đó cá nhân ông Đỗ VT cũng là một trong các Bị đơn liên quan đến việc bảo lãnh là hoàn toàn đúng thẩm quyền của Hội đồng Trọng tài. Các lý do yêu cầu hủy phán quyết trọng tài mà các Bị đơn nêu trên đưa ra không thuộc căn cứ để hủy Phán quyết Trọng tài được quy định tại điểm a khoản 2 Điều 68 Luật Trọng tài thương mại năm 2010 nên không có căn cứ để đươc hội đồng xét đơn chấp nhận.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên

họp phát biểu ý kiến như sau: Đề nghị Hội đồng không chấp nhận yêu cầu của các Bị đơn về việc hủy Phán quyết trọng tài Vụ tranh chấp số 36/19 HCM của Hội đồng Trọng tài thuộc Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam lập ngày 24/8/2019.

Bởi các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Không hủy Phán quyết trọng tài Vụ tranh chấp số 36/19 HCM của Hội

đồng Trọng tài thuộc Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam lập ngày 24/8/2019 giải quyết tranh chấp về yêu cầu bồi thường thiệt hại và phạt vi phạm hợp đồng giữa:

- Nguyên đơn: Bà Hoàng Thị Kim P

Địa chỉ: số 9 Phan Văn Sửu, Phường 13, quận Tân Bình, TP.Hồ Chí Minh

- Các Bị đơn:

1. Công ty TNHH Đầu tư Bất động sản TB

Địa chỉ: 58 HBD, Phường M, quận T, TP. Hồ Chí Minh.

2. Công ty Cổ phần Xây dựng và Phát triển CN

Địa chỉ: 75/3 CL, Phường M, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

3.Ông Đỗ VT

Địa chỉ: Căn A 14, Khu Biệt thự GH, số 7/280 Quốc lộ M, Phường N,

quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

2. Quyết định này là quyết định cuối cùng và có hiệu lực thi hành kể từ

ngày công bố.

Cỡ chữ