- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Thảo Phương - Lê Văn Thuần"
- Tòa quyết gì? Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Thảo P và anh Lê Văn T.
- Căn cứ chính? Điều 212 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 213 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY BẮC TỈNH BẾN TRE | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 180/2020/QĐST-HNGĐ | Mỏ Cày Bắc, ngày 20 tháng 11 năm 2020 |
QUYẾT ĐỊNH
CÔNG NHẬN THUẬN TÌNH LY HÔN
VÀ SỰ THOẢ THUẬN CỦA CÁC ĐƯƠNG SỰ
Căn cứ hồ sơ vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 331/2020/TLST- HNGĐ ngày 29/10/2020, giữa:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Thảo P, sinh năm 1996.
Địa chỉ: khu phố B, phường 6, thành phố T, tỉnh L.
Bị đơn: Anh Lê Văn T, sinh năm 1984.
Địa chỉ: ấp G, xã N, huyện M, tỉnh B.
Căn cứ vào Điều 212 và Điều 213 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào các Điều 55, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ vào biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hoà giải thành ngày 12 tháng 11 năm 2020.
XÉT THẤY:
Việc thuận tình ly hôn và thoả thuận của các đương sự được ghi trong biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hoà giải thành ngày 12 tháng 11 năm 2020 là hoàn toàn tự nguyện và không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.
Đã hết thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hoà giải thành, không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thoả thuận đó.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Thảo P và anh Lê Văn T.
2. Công nhận sự thoả thuận của các đương sự cụ thể như sau:
Về con chung: Anh Lê Văn T trực tiếp nuôi con chung tên Lê Thảo N, sinh ngày 15/6/2012 (phù hợp với nguyện vọng của cháu N tại biên bản lấy ý kiến con chưa thành niên đề ngày 12/11/2020), hiện cháu N đang sống với anh T, chị Nguyễn Thị Thảo P không phải cấp dưỡng nuôi con do anh T không có yêu cầu.
Sau khi ly hôn, cha, mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình và các luật khác có liên quan. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con thực hiện các nghĩa vụ theo quy định tại Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình, yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.
Về chia tài sản khi ly hôn: Chị Nguyễn Thị Thảo P và anh Lê Văn T thống nhất tài sản chung, nợ chung không có nên không đề cập.
Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm chị Nguyễn Thị Thảo P tự nguyện chịu nên phải nộp 150.000 đồng nhưng được khấu trừ tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 theo biên lai thu tạm ứng án số 0003764 ngày 29/10/2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre nên chị còn được nhận lại 150.000 đồng.
3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bến Tre (01b); - VKSND huyện Mỏ Cày Bắc (02b); - Chi cục THADS huyện Mỏ Cày Bắc (01b); - UBND xã Nhuận Phú Tân, số 28, ngày 19/3/2020 (01b); - Đương sự (02b); - Lưu: VP; hồ sơ vụ án (02b). | THẨM PHÁN Nguyễn Thị Hoài Nhớ |