vanban.org

Quyết định 18/QĐ-TA

TAND TP. Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa Tuyên án 10/05/2018 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Bùi Tấn Đ tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Khánh Hòa.

Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 01 (Một) năm 06 (sáu) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc. Quyền khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị đối với Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghi… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Bùi Tấn Đạt"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Bùi Tấn Đ tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Khánh Hòa.
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ C
TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 18/QĐ-TAC, ngày 10 tháng 5 năm 2018

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ C, TỈNH KHÁNH HÒA

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Bà Lê Thị Hồng Công

2. Thư ký phiên họp: Bà Trần Hữu Xuân Quỳnh

Ngày 10 tháng 5 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố C tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính số: 17/QĐ-TA ngày 27 tháng 4 năm 2018 đối với:

Bùi Tấn Đ (tên gọi khác: T); Giới tính: Nam; Sinh ngày: 01/8/1992; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 7/12; Hộ khẩu thường trú: Thôn M, xã Đ, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa; Chỗ ở hiện nay: Không có nơi cư trú ổn định; Nghề nghiệp: Thợ hồ; Tiền án: Ngày 17/7/2012, bị Tòa án nhân dân thành phố N xử phạt 04 năm tù về tội “Cướp giật tài sản”; Tiền sự: Không; Con ông: Bùi Hoài P, sinh năm: 1966 và bà: Phạm Thị N, sinh năm: 1970.

(Có mặt tại phiên họp).

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Bà Nguyễn Thị Lý - Phó trưởng phòng Lao động - Thương binh & Xã hội thành phố C.

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố C: Ông Bùi Văn Khánh - Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Vào khoảng 18 giờ 00 phút, ngày 03/4/2018, tổ công tác Công an phường L tuần tra địa bàn phát hiện Bùi Tấn Đ có biểu hiện nghi vấn sử dụng trái phép chất ma túy. Tổ công tác mời Đ về trụ sở Công an phường L để làm việc. Tại đây, Đ khai nhận vào lúc 23 giờ ngày 02/4/2018 sử dụng trái phép chất ma túy tại khu vực tổ dân phố V, phường L, thành phố C. Công an phường L phối hợp với Trạm y tế phường L tiến hành thử nước tiểu bằng que thử FaStep đối với Đ, kết quả Đ dương tính với ma túy loại Methamphetamine. Công an phường L đã tiến hành xác minh nơi cư trú của Đ, xác định Đ không có nơi cư trú ổn định.

Ngày 03/4/2018, Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường L ban hành Quyết định số 55/QĐ-UBND, về việc: Giao cho Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Khánh Hòa quản lý Đ trong thời gian làm thủ tục đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Ngày 17/4/2018, Ủy ban nhân dân phường L ban hành Tờ trình số: 464/TTr-UBND, đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Đ.

Ngày 17/4/2018, Phòng Tư pháp thành phố C có Thông báo số 155/TB-TP về kết quả kiểm tra tính pháp lý của hồ sơ đề nghị.

Ngày 24/4/2018, Phòng Lao động - Thương binh & Xã hội thành phố C có văn bản số 180/LĐTBXH về việc đề nghị xem xét áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Đ.

Tại phiên họp, đại diện cơ quan đề nghị, đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Đ từ 12 đến 24 tháng.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu: Tòa án đã thực hiện đúng quy định của Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân và đề nghị Tòa án giải quyết áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Đ.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên họp; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của đại diện cơ quan đề nghị, Kiểm sát viên.

XÉT THẤY:

Hồ sơ đề nghị đầy đủ; đảm bảo đúng trình tự, thủ tục, thẩm quyền và thời hiệu theo quy định.

Bùi Tấn Đ là người nghiện ma túy tuy chưa bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn nhưng không có nơi cư trú ổn định. Hành vi này của Đ đã vi phạm quy định tại khoản 3 Điều 3 Luật Phòng, chống ma túy và quy định tại khoản 1 Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính.

Hành vi của Đ không những ảnh hưởng đến bản thân, gia đình mà còn ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội tại địa phương, làm gia tăng các tệ nạn xã hội. Do đó, việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Đ là cần thiết theo quy định tại Điều 95, Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính, khoản 1 Điều 1 Nghị định 136/NĐ-CP, ngày 09/9/2016 của Chính phủ để Đ có đủ điều kiện cai nghiện, tái hòa nhập cộng đồng.

Đồng thời xét đề nghị của người đại diện cơ quan đề nghị là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật nên chấp nhận.

Tuy nhiên, trong hồ sơ và tại phiên họp, Đ đã tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi, mong muốn nhanh chóng tái hòa nhập xã hội. Do đó, cần xem xét cho Đ được giảm một phần thời gian cai nghiện để Đ có điều kiện khắc phục, sửa chữa bản thân.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Bùi Tấn Đ tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Khánh Hòa.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 01 (Một) năm 06 (sáu) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.

3. Quyền khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị đối với Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc: Người bị áp dụng Bùi Tấn Đ có quyền khiếu nại, cơ quan đề nghị Phòng Lao động - Thương binh & Xã hội thành phố C có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân thành phố C có quyền kháng nghị trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định này.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định: Phòng Lao động - Thương binh & Xã hội thành phố C phối hợp với Công an thành phố C thi hành quyết định này.

Cỡ chữ