vanban.org

Quyết định 18/QĐ-TA

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trần Phúc L.

Thời gian chấp hành tại Cơ sở cai nghiện bắt buộc là 15 (mười lăm) tháng, kể từ ngày đưa vào Cơ sở Tư vấn và Điều trị cai nghiện ma túy tỉnh Bà Rịa –Vũng Tàu (ngày 20 tháng 3 năm 2023). Quyền khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị đối với Quyết định. Được thực hiện theo quy định tại các điều 30, 31 và 32 … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Trần Phúc L"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trần Phúc L.
  • Căn cứ chính? Điều 32 Luật Phòng, chống ma túy; Điều 40 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP Quy định chi tiết một số điều củ…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ B
TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 18/QĐ-TABà Rịa, ngày 27 tháng 4 năm 2023

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính

đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Bà Bùi Thị Dung

2. Thư ký phiên họp: Bà Hồ Thị Thắm

Ngày 27 tháng 4 năm 2023, tại Cơ sở tư vấn và điều trị nghiện tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 18/QĐ-TA ngày 24 tháng 4 năm 2023 đối với:

Họ và tên: Trần Phúc L, sinh năm: 1988; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; trình độ học vấn: 6/12; nguyên quán: Bà Rịa – Vũng Tàu; hộ khẩu thường trú: Ấp B 2, xã H, thành phố B, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; nơi cư trú: Ấp B 2, xã H, thành phố B, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; nghề nghiệp: không (có mặt).

Tiền án: Năm 2017 bị Tòa án nhân dân thành phố B tuyên phạt 1 năm tù giam về tội “Trộm cắp tài sản”; năm 2019 bị Tòa án nhân dân thành phố B tuyên phạt 1 năm tù giam về tội “Trộm cắp tài sản”; năm 2021 bị Tòa án nhân dân huyện Đất Đỏ tuyên phạt 1 năm 2 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản”;

Tiền sự: Năm 2010 đi cai nghiện bắt buộc.

Con ông Đặng Minh Chiến và bà Trần Thị Lài

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội thành phố B, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu: Ông Lý Vĩnh Bảo Thế – Chức vụ: Chuyên viên Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội thành phố B.

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu: Bà Võ Thị Như Điểm – Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên họp, nội dung sự việc được tóm tắt như sau:

Ngày 08/3/2023, Công an xã H, thành phố B, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tiến hành test ma túy đối với Trần Phúc L, kết quả dương tính nên lập biên bản vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Đến ngày 13-3-2023, Trạm y tế xã H có văn bản trả lời kết quả xác nhận L có nghiện ma túy loại Heroin. L không có nơi cư trú ổn định nên Công an xã H tiến hành xác minh, thu thập tài liệu và lập hồ sơ đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.

Ngày 20/3/2023, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã H ban hành Quyết định số 100/QĐ-UBND giao cho Cơ sở tư vấn và điều trị nghiện ma túy tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu quản lý trong thời gian làm thủ tục đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Ngày 20/3/2023, Công an xã H lập biên bản về việc Trần Phúc L từ chối cai nghiện tự nguyện.

Ngày 24/3/2023, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã H đề nghị Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội thành phố B xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với L.

Ý kiến của của đại diện Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội thành phố B, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu:

Đối tượng L là người đủ 18 tuổi sử dụng trái phép ma túy, có hộ khẩu tại xã H, thành phố B nhưng không thường xuyên sinh sống tại địa phương, do đó xác định L có nơi cư trú không ổn định, L từ chối cai nghiện tự nguyện. Đề nghị Tòa án xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở Tư vấn và Điều trị cai nghiện ma túy tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

Ý kiến của người bị đề nghị Trần Phúc L:

Ngày 08/3/2023, L sử dụng trái phép chất ma túy. Ngày 08/3/2023, Công an xã H mời lên làm việc và tiến hành xét nghiệm ma túy, kết quả dương tính. L thừa nhận hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của mình. Hiện nay L không có nơi cư trú ổn định vì Huy mới chấp hành xong hình phạt tù. Hộ khẩu thường trú của L ở xã H, thành phố B, tuy nhiên L thường xuyên vắng mặt, do đó nơi cư trú của L không ổn định. L từ chối cai nghiện tự nguyện và đồng ý cai nghiện bắt buộc.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính như sau:

- Thẩm phán và Thư ký phiên họp đã tuân thủ theo pháp luật trong việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính.

- Cơ quan đề nghị đã tuân thủ các quy định của pháp luật, người bị đề nghị vắng mặt là chưa tuân thủ các quy định của pháp luật.

- Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đã tuân thủ các quy định của pháp luật có liên quan và đề nghị Tòa án chấp nhận đề nghị của Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trần Phúc L trong thời hạn từ 15 đến 18 tháng.

XÉT THẤY:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và nghe lời trình bày của những người tham gia phiên họp; ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên, thì thấy:

Về thời hiệu và thẩm quyền giải quyết: Ngày 08/3/2023, Công an xã H lập biên bản vi phạm về cai nghiện ma túy tự nguyện, quản lý sau cai nghiện ma túy và điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuộc thay thế đối với Trần Phúc L. Ngày 23/3/2023 Công an xã H đề nghị chủ tịch Ủy ban nhân dân xã H, thành phố B đưa L vào Cơ sở tư vấn và điều trị nghiện ma túy tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Ngày 24/3/2023, Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường Phước Hưng thành phố B ban hành văn bản số 03/GĐN-UBND đề nghị xem xét áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với L là còn trong thời hiệu và Tòa án nhân dân thành phố B là cơ quan có thẩm quyền xem xét, áp dụng theo quy định tại Điều 95, 96 điểm b khoản 1 Điều 103, Điều 104, Điều 105 của Luật xử lý vi phạm hành chính; khoản 1 Điều 3 của Pháp lệnh trình tự thủ tục xem xét quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân; Điều 40 của Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ và khoản 4 Điều 32 luật phòng chống ma túy.

Về trình tự, thủ tục lập hồ sơ: Sau khi xác định L là người nghiện ma túy, từ chối cai nghiện tự nguyện, cơ quan có thẩm quyền đã tiến hành điều tra, xác minh thực hiện đầy đủ và đúng trình tự quy định tại các Điều 40, 41, 42, 43, 44 và 46 của Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 và Điều 103, 104 Luật xử lý vi phạm hành chính.

Xét đề nghị của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã H thì thấy: Qua thẩm tra hồ sơ xác định L là đối tượng nghiện ma túy trên 18 tuổi, từ chối đi cai nghiện tự nguyện. Hành vi của L đã vi phạm khoản 1 Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính và Điều 40 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ. Do đó, có đủ cơ sở để áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với L trong một thời gian đủ để tạo điều kiện cho đối tượng cai nghiện và học nghề cũng như giáo dục riêng và phòng ngừa nói chung.

Tình tiết tăng nặng: L có tiền án về tội trộm cắp tài sản và tiền sự về việc đi cai nghiện năm 2010 nên bị áp dụng tình tiết tái phạm theo quy định tại Điều 10 Luật xử lý vi phạm hành chính.

Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình lập hồ sơ Huy tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi là tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trần Phúc L.

2. Thời gian chấp hành tại Cơ sở cai nghiện bắt buộc là 15 (mười lăm) tháng, kể từ ngày đưa vào Cơ sở Tư vấn và Điều trị cai nghiện ma túy tỉnh Bà Rịa –Vũng Tàu (ngày 20 tháng 3 năm 2023).

3. Quyền khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị đối với Quyết định. Được thực hiện theo quy định tại các điều 30, 31 và 32 của Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân (người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính có quyền khiếu nại trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định: Công an thành phố B, Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội thành phố B và Cơ sở Tư vấn và Điều trị nghiện ma túy tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu có trách nhiệm thi hành quyết định này.

THẨM PHÁN

Cỡ chữ