vanban.org

Quyết định 18/QĐ-TA

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Hoàng Trọng B.

Thời gian chấp hành của Hoàng Trọng B tại Cơ sở điều trị nghiện ma túy tỉnh Đồng Nai, số 70 ấp B, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai là 20 (hai mươi) tháng kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc (ngày 08/6/2019). Trong thời hạn 03 ngày làm việ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Hoàng Trọng B"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Hoàng Trọng B.
  • Căn cứ chính? Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính và hướng dẫn; Điều 10 Luật xử lý vi phạm hành chính và hướng dẫn; Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN T
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 18/QĐ-TAT, ngày 19 tháng 7 năm 2019

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T – TỈNH ĐỒNG NAI

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán chủ trì phiên họp: Bà Nguyễn Thị Thúy Nga

2. Thư ký phiên họp: Bà Đinh Thị Tuyết Hạnh

Ngày 19 tháng 7 năm 2019, tại Cơ sở điều trị nghiện ma túy tỉnh Đồng Nai - ấp B, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai, Tòa án nhân dân huyện T tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số: 18/2019/QĐ-TA ngày 08 tháng 7 năm 2019 và Thông báo Về việc thay đổi thời điểm mở phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính số 01/TB – TA ngày 15/7/2019 đối với:

Họ và tên: Hoàng Trọng B, sinh ngày: 16/11/1985; Chứng minh nhân dân không cung cấp được chứng minh nhân dân; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh ; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 11/12; Hộ khẩu thường trú: ấp T, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai; Chỗ ở hiện nay: Không có nơi cư trú ổn định; Tiền án: Không; Tiền sự: không; Con ông Hoàng Trọng V (sinh năm: 1958) và bà Phạm Thúy H (sinh năm: 1958).

Có mặt tại phiên họp.

Có sự tham gia của:

- Đại diện cơ quan đề nghị: Phòng Lao động - Thương binh và xã hội huyện T (Do anh Nguyễn Văn Trung Hiếu - Chức vụ: Chuyên viên, làm đại diện hợp pháp).

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T: Ông Lê Trần Thọ - Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Quá trình thu thập tài liệu, xác minh thông tin xác định được hành vi của Hoàng Trọng B như sau:

Hoàng Trọng B đăng ký hộ khẩu thường trú tại ấp T, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai; không có nơi cư trú ổn định. Hoàng Trọng B nghiện ma túy từ năm 2016 và thường xuyên sử dụng ma túy, loại ma túy thường sử dụng là ma túy tổng hợp chất dạng Amphetamine.

Ngày 08/6/2019, Công an xã B, huyện T nghi vấn nên đã mời Hoàng Trọng B về trụ sở UBND xã làm việc. Qua làm việc đối tượng B đã thừa nhận hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Công an xã đã đưa đối tượng đến Trạm y tế xã H để xét nghiệm và xác định đối tượng B nghiện ma túy nên đã đề nghị lập hồ sơ áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Qua xác minh tại nơi đăng ký hộ khẩu thường trú của Hoàng Trọng B xác định: Đối tượng Hoàng Trọng B sử dụng trái phép chất ma túy và thường xuyên bỏ đi khỏi địa phương địa phương, không có nơi cư trú ổn định.

Công an xã B, huyện T đã ban hành Thông báo số: 13/TB ngày 08/6/2019 về việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại trung tâm đối với Hoàng Trọng B.

Phòng Tư pháp huyện T có Thông báo số: 343/TB – PTP ngày 18/6/2019, thông báo kết quả kiểm tra tính pháp lý của hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Hoàng Trọng B là đảm bảo tính pháp lý.

Tại Công văn đề nghị số: 299/LĐTBXH ngày 01 tháng 7 năm 2019, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện T đề nghị đưa đối tượng Hoàng Trọng B vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở điều trị nghiện ma túy tỉnh Đồng Nai, thời gian đề nghị là 15 (mười lăm) tháng đến 20 (hai mươi) tháng.

Tại phiên họp, đại diện các cơ quan giữ nguyên quan điểm, đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Hoàng Trọng B với thời gian áp dụng là từ 15 (mười lăm) tháng đến 20 (hai mươi) tháng tại Cơ sở điều trị nghiện ma túy tỉnh Đồng Nai - Ấp B, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai.

Ý kiến của người bị đề nghị về nội dung đề nghị của cơ quan đề nghị: Người bị đề nghị thừa nhận nghiện ma túy từ năm 2016, việc Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện T đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc như trên là đúng, tuy nhiên đề nghị Tòa án xem xét giảm nhẹ mức thời hạn áp dụng.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính: Quá trình từ khi thụ lý đến khi mở phiên họp, và tại phiên họp Thẩm phán đã tiến hành đầy đủ và đúng trình tự, thủ tục; cơ quan đề nghị, người bị đề nghị tuân thủ quyền và nghĩa vụ quy định tại Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân. Đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Hoàng Trọng B với thời gian áp dụng là 15 (mười lăm) đến 20 (hai mươi) tháng, tại Cơ sở điều trị nghiện ma túy tỉnh Đồng Nai - ấp B, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai.

XÉT THẤY:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ đề nghị đã được thẩm tra tại phiên họp, sau khi xem xét ý kiến của những người tham gia phiên họp, Tòa án nhận định:

* Về tố tụng: Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện T lập đúng thẩm quyền, đảm bảo thời hiệu áp dụng, việc lập hồ sơ, thẩm tra hồ sơ đã đúng quy định tại điểm d khoản 2 Điều 6, điểm b khoản 1 Điều 103; Điều 104 Luật xử lý vi phạm hành chính và hướng dẫn tại các Điều 4, 8, 9, 10, 12 Nghị định 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ.

* Về nội dung đề nghị: Theo các tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ, lời thừa nhận của người bị đề nghị, đã có đủ cơ sở kết luận Hoàng Trọng B đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, bản thân không có nơi cư trú ổn định. Do đó hành vi của B đã đủ yếu tố để áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo điểm b, khoản 1 Điều 10, khoản 1 Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính và hướng dẫn tại khoản 2 Điều 3 Nghị định 221/2013/NĐ - CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ.

Hành vi sử dụng ma túy của Hoàng Trọng B là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền về quản lý chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự trị an, an toàn xã hội tại địa phương. B là người đã thành niên nhưng không có nơi cư trú ổn định, thường xuyên sử dụng trái phép chất ma túy. Ma túy là chất gây nghiện, người nghiện ma túy ảnh hưởng đến thể chất và tinh thần và là nguyên nhân của các tội phạm khác, do đó Nhà nước nghiêm cấm sử dụng trái phép chất ma túy và ma túy do Nhà nước độc quyền quản lý. Bản thân B biết rõ tác hại của ma túy nhưng vẫn thực hiện hành vi vi phạm.

Do đó việc áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với B là cần thiết, tạo điều kiện cho B chữa bệnh, lao động, học tập văn hóa, học nghề dưới sự quản lý của cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của hành vi vi phạm hành chính của người bị đề nghị thì thấy: Tại buổi họp xét, Hoàng Trọng B tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi là tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính.

Về tình tiết tăng nặng: không có tình tiết tăng nặng.

Về ý kiến của cơ quan đề nghị tại phiên họp là phù hợp với nhận định trên nên cần chấp nhận đề nghị của cơ quan đề nghị về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với B. Xét thấy về mức thời hạn áp dụng 20 (hai mươi) tháng là phù hợp so với tính chất, mức độ hành vi vi phạm hành chính của Hoàng Trọng B.

Ý kiến của người bị đề nghị, nhất trí với đề nghị và không có ý kiến gì khác.

Vì các lẽ trên,

Áp dụng khoản 2 Điều 9, Điều 95, khoản 1 Điều 96, khoản 2 Điều 104, Điều 110 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012; các Điều 22, 23, 31 Pháp lệnh 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 về trình tự thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Hoàng Trọng B.

2. Thời gian chấp hành của Hoàng Trọng B tại Cơ sở điều trị nghiện ma túy tỉnh Đồng Nai, số 70 ấp B, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai là 20 (hai mươi) tháng kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc (ngày 08/6/2019).

3. Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định người bị đề nghị có quyền khiếu nại, Viện kiểm sát có quyền kháng nghị, Cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị đến Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai để xem xét, giải quyết.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Đối tượng Hoàng Trọng B, Phòng lao động - Thương binh và Xã hội huyện T; Cơ sở điều trị nghiện ma túy tỉnh Đồng Nai là cá nhân, Cơ quan thi hành quyết định này.

Cỡ chữ