- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Lê Thị Kiều Trang xin ly hôn tranh chấp nuôi con với ông Đặng Hữu Lý"
- Tòa quyết gì? Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa bà Lê Thị Kiều T và ông Đặng Hữu L thuận tình ly hôn.
- Căn cứ chính? Điều 212 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 213 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CL TỈNH BT | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 18/2025/QĐST-HNGĐ | CL, ngày 16 tháng 01 năm 2025. |
QUYẾT ĐỊNH
CÔNG NHẬN THUẬN TÌNH LY HÔN
VÀ SỰ THỎA THUẬN CỦA CÁC ĐƯƠNG SỰ
Căn cứ hồ sơ vụ án dân sự thụ lý số: 430/2024/TLST-HNGĐ, ngày 23 tháng 12 năm 2024 giữa:
Nguyên đơn: bà Lê Thị Kiều T, sinh năm: 1988; ĐKTT: 330/74 ấp SP, xã SĐ, huyện CL, tỉnh BT; Nơi tạm trú: ấp 8, xã HH1, huyện TB, tỉnh VL.
Bị đơn: ông Đặng Hữu L, sinh năm: 1980; địa chỉ: 330/74 ấp SP, xã SĐ, huyện CL, tỉnh BT.
Căn cứ vào Điều 212 và Điều 213 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ vào các điều 55 của Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ vào biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hoà giải thành ngày 08 tháng 01 năm 2025.
XÉT THẤY:
Việc thuận tình ly hôn và thoả thuận của các đương sự được ghi trong biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hoà giải thành ngày 08 tháng 01 năm 2025 là hoàn toàn tự nguyện và không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.
Đã hết thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hoà giải thành, không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thoả thuận đó.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa bà Lê Thị Kiều T và ông Đặng Hữu L thuận tình ly hôn.
2. Công nhận sự thoả thuận của các đương sự cụ thể như sau:
Về việc cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly hôn: bà Lê Thị Kiều T và ông Đặng Hữu L không yêu cầu Tòa án giải quyết gì về việc cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly hôn.
Về con chung và việc cấp dưỡng nuôi con: bà Lê Thị Kiều T đồng ý để cho ông Đặng Hữu L được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc hai người con chung của ông, bà là cháu Đặng Lê Ái M, sinh ngày 09/03/2009 và Đặng Lê Trí L1, sinh ngày 20/9/2016. Ghi nhận việc ông L không yêu cầu bà T cấp dưỡng nuôi con.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền đến thăm nom con mà không ai được cản trở họ thực hiện quyền này. Trong trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án quyết định hạn chế quyền thăm nom con của người không trực tiếp nuôi con.
Vì lợi ích của con chung, ông L và bà T có quyền làm đơn yêu cầu Tòa án quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức và phương thức cấp dưỡng nuôi con. Trong trường hợp có căn cứ người trực tiếp nuôi con không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con, trên cơ sở lợi ích của con thì người thân thích, Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình và trẻ em, Hội liên hiệp phụ nữ có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con.
Về tài sản chung: tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa giải quyết.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa giải quyết.
Về án phí dân sự sơ thẩm là: 150.000đồng.
Bà Lê Thị Kiều T tự nguyện nộp 150.000đ (một trăm năm mươi ngàn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm. Số tiền bà T đã nộp tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án theo biên lai số 0005829, ngày 19/12/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện CL được khấu trừ sang tiền án phí. Hoàn trả cho bà T số tiền chênh lệch còn lại là 150.000đồng.
3.Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.
| Nơi nhận: - Đương sự; - Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp; - UBND xã SĐ; - Lưu hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN LÊ THỊ THÚY HẰNG |