vanban.org

Quyết định 18/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện về việc “Ly hôn, nuôi con chung” của bà Trịnh Nguyệt Kh đối với ông Trịnh Văn Thái.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Trịnh Nguyệt Kh – Sinh năm 1993 được ly hôn ông Trịnh Văn Th – Sinh năm 1986. (Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 46 ngày 27/12/2019 của Ủy ban nhân dân xã Hợp Thành, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hoá không còn giá trị kể từ ngày Bản án này có hiệu lực pháp luật). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trịnh Nguyệt Khang - Trịnh Văn Thái"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện về việc “Ly hôn, nuôi con chung” của bà Trịnh Nguyệt Kh đối với ông Trịnh Văn Thái.
  • Căn cứ chính? Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

phường Thanh Khê
TÒA ÁN NHÂN DÂN
NGHĨA VIỆT
KHU VỰC 3- ĐÀ NẴNG
Bản án số: 18/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 20 tháng 8 năm 2025
“V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 –ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Thị Hồng Thủy

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Tý

2. Bà Nguyễn Thị Hồng

- Thư ký phiên tòa: Bà Lương Lê Ngọc Linh– Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 3 - Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Mai Phương - Kiểm sát viên.

Trong ngày 20 tháng 8 năm 2025 tại Hội trường xét xử (cơ sở 1), Tòa án nhân dân khu vực 3 - Đà Nẵng mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 111/2025/TLST - HNGĐ ngày 27 tháng 3 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 05/2025/QĐXX- HNGĐ ngày 18 tháng 7 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 04/2025/QĐST - HNGĐ ngày 04 tháng 8 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Trịnh Nguyệt Kh – Sinh năm 1993; Địa chỉ: Tổ 29, phường Thạc Gián (cũ), nay là phường Thanh Kh , thành phố Đà Nẵng. Có mặt.

- Bị đơn: Ông Trịnh Văn Th – Sinh năm 1986; Địa chỉ: Địa chỉ: Tổ 29, phường Thạc Gián (cũ), nay là phường Thanh Kh , thành phố Đà Nẵng. (Vắng mặt lần thứ hai).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện gửi đến Tòa án, bản tự khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Trịnh Nguyệt Kh trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Trịnh Nguyệt Kh và ông Trịnh Văn Th kết hôn năm 2019, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Hợp Thành, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hoá (nay là xá Hợp Tiến, tỉnh Thanh Hoá). Hôn nhân trên cơ sở tự nguyện. Trong quá trình chung sống với nhau, bà Khang và ông Thái thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng không hòa hợp, hay cải vã, ông Thái thường xuyên bỏ nhà đi, không quan tâm, chăm sóc và không có trách nhiệm với gia đình và vợ con. Ông bà đã sống ly thân từ năm 2023 đến nay. Nay bà Khang nhận thấy không còn tình cảm với ông Thái, mâu thuẫn vợ chồng đã quá trầm trọng không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Thái.

- Về quan hệ con chung: Bà Khang xác nhận, bà và ông Thái có 01 con chung tên Trịnh Minh Anh - Sinh ngày 27/12/2021. Ly hôn, bà Khang có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung và không yêu cầu ông Thái cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

Hiện nay, con chung đang sống cùng với bà Khang tại địa chỉ tổ 29, phường Thạc Gián (cũ), nay là phường Thanh Kh , thành phố Đà Nẵng.

- Về tài sản chung: Bà Khang xác nhận bà và ông Thái tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết.

- Về nợ chung: Bà Khang xác nhận bà và ông Thái không nợ ai và không ai nợ vợ chồng bà.

* Bị đơn ông Trịnh Văn Thái: Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã tống đạt Thông báo thụ lý vụ án, Giấy triệu tập lấy lời khai, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Thông báo hoãn phiên họp họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và tiến hành các thủ tục đăng tin tìm kiếm trên phương tiện thông tin đại chúng nhưng ông Thái vắng mặt cũng như không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của bà Khang nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của ông Thái.

* Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3:

- Về thủ tục tố tụng:

+ Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án:

Quá trình Tòa án thụ lý giải quyết cũng như tại phiên tòa ngày hôm nay Thẩm phán, HĐXX và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình, việc giải quyết vụ án được thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự, đảm bảo cho các đương sự được thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình.

+ Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án:

Quá trình Tòa án thụ lý giải quyết cũng như tại phiên tòa ngày hôm nay nguyên đơn đã thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình quy định tại Điều 70, 71, 234 Bộ luật tố tụng dân sự. Còn bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng không có ý kiến trình bày quan điểm về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và không tham gia quá trình tố tụng là không thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình quy định tại Điều 70, 72, 234 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về quan điểm đối với việc giải quyết vụ án: Đối với yêu cầu xin ly hôn và nuôi con chung của bà Trịnh Nguyệt Kh đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng 56,81,82,83 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu của bà Khang. Đề nghị HĐXX xử cho bà Khang ly hôn với ông Trịnh Văn Th và giao con chung tên Trịnh Minh Anh - Sinh ngày 27/12/2021 cho bà Khang trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ tuổi trưởng thành (18 tuổi), bà Khang không yêu cầu ông Thái cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Về quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết vụ án: Căn cứ Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, đây là vụ án tranh chấp ly hôn, nuôi con chung, bị đơn ông Trịnh Văn Th có cư trú tại khu vực 3 , thành phố Đà Nẵng nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 3, Đà Nẵng. Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án nhân dân khu vực 3 đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa nhưng ông Trịnh Văn Th vẫn vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông Trịnh Văn Th theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự .

Về nội dung tranh chấp của vụ án:

Tại phiên toà bà Trịnh Nguyệt Kh giữ nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân khu vực 3, Đà Nẵng giải quyết cho bà Khang được ly hôn ông Trịnh Văn Thái.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Trịnh Nguyệt Kh và ông Trịnh Văn Th xây dựng gia đình vào năm 2019, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Hợp Thành, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hoá (nay là xá Hợp Tiến, tỉnh Thanh Hoá). Hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, có thời gian tìm hiểu yêu thương nhau. Việc kết hôn giữa bà Khang và ông Thái là hoàn toàn tự nguyện, không bị ép buộc và không trái với quy định của pháp luật nên quan hệ hôn nhân giữa bà Khang và ông Thái là hoàn toàn hợp pháp.

Xét thấy trong đơn khởi kiện gửi đến Tòa án, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, bà Khang xác nhận trong quá trình chung sống vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân chủ yếu là do bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp nhau, nguyên nhân là do vợ chồng hay cải vã, ông Thái đi hay bỏ nhà đi, không quan tâm đến gia đình, vợ con. Hiện nay, bà Khang và ông Thái đã sống ly thân được hơn 02 năm. Bà Khang xác định không còn tình cảm vợ chồng với ông Thái nên mong muốn được ly hôn.

Trong quá trình giải quyết vụ án, tại các phiên hòa giải cũng như tại phiên tòa hôm nay, mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng ông Trịnh Văn Th đều vắng mặt và cũng không trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu ly hôn của bà Vy. Điều này thể hiện ông Thái không có thiện chí muốn hàn gắn hạnh phúc gia đình. Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn của vợ chồng bà Khang và ông Thái đã đến mức trầm trọng, đời sống chung thực tế đã không còn tồn tại, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần áp dụng Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của bà Trịnh Nguyệt Kh đối với ông Trịnh Văn Thái.

Về quan hệ con chung: Bà Trịnh Nguyệt Kh và ông Trịnh Văn Th có 01 con chung tên Trịnh Minh Anh - Sinh ngày 27/12/2021. Quá trình giải quyết vụ án, bà Khang xác nhận con chung đang sống ổn định với bà nên bà có nguyện vọng nuôi dưỡng con đến khi đủ tuổi trưởng thành và không yêu cầu ông Thái cấp dưỡng nuôi con chung.

Xét yêu cầu giao con chung của bà Khang thì thấy: Trong quá trình giải quyết vụ án, ông Thái vắng mặt và không có ý kiến gì về việc bà Khang có nguyện vọng trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con. Ngoài ra, hiện nay các con chung của ông Thái và bà Khang đang được bà Khang trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng rất cần sự chăm sóc của mẹ nên xử chấp nhận theo nguyện vọng của bà Khang, giao chung cho bà Khang chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con đủ tuổi thành niên (18 tuổi). Bà Khang không yêu cầu ông Thái cấp dưỡng nuôi con và ông Thái không có ý kiến gì về vấn đề này nên HĐXX xét xử không xem xét.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà Trịnh Nguyệt Kh xác định, bà và ông Thái không có. Quá trình giải quyết vụ án ông Thái vắng mặt và không có ý kiến gì đối với vấn đề tài sản chung và nợ chung nên HĐXX không đề cập. Nếu sau này, bà Khang và ông Thái có tranh chấp về phần tài sản chung và nợ chung thì có quyền khởi kiện bằng vụ án dân sự khác.

Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà Trịnh Nguyệt Kh phải chịu 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên; [ơ

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 227, 235, 266 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Điều 51, 56, 58, 81, 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện về việc “Ly hôn, nuôi con chung” của bà Trịnh Nguyệt Kh đối với ông Trịnh Văn Thái.

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Trịnh Nguyệt Kh – Sinh năm 1993 được ly hôn ông Trịnh Văn Th – Sinh năm 1986.

(Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 46 ngày 27/12/2019 của Ủy ban nhân dân xã Hợp Thành, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hoá không còn giá trị kể từ ngày Bản án này có hiệu lực pháp luật).

2. Về quan hệ con chung: Giao con chung tên con chung tên Trịnh Minh Anh - Sinh ngày 27/12/2021 cho bà Trịnh Nguyệt Kh trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cho đến khi con chung trưởng thành, đủ 18 tuổi. Ông Trịnh Văn Th không cấp dưỡng nuôi con.

Các bên đương sự có mọi quyền và nghĩa vụ đối với con chung theo quy định của pháp luật. Khi vì lợi ích con chung, các bên đương sự có quyền xin thay đổi người nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

3. Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà Trịnh Nguyệt Kh phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu số 0006289 ngày 26/3/2025 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Thanh Khê, Đà Nẵng (Nay là phòng thi hành án dân sự khu vực 3, Đà Nẵng). Bà Khang đã nộp đủ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết công khai.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ