vanban.org

Quyết định 18/2024/QĐCNTTLH — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các bên tham gia hòa giải được ghi trong Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải ngày 17 tháng 01 năm 2024, cụ thể như sau:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Trương Thị L và anh Đặng Văn T tự nguyện thuận tình ly hôn. Về việc nuôi con: Chị Trương Thị L và anh Đặng Văn T thống nhất thỏa thuận giao hai cháu Trương Anh T1, sinh ngày 07/12/2017 và cháu Đặng Gia B, sinh ngày 28/12/2019 cho chị L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡ…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các bên tham gia hòa giải được ghi trong Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải ngày 17 tháng 01 năm 2024, cụ thể như sau:
  • Căn cứ chính? Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BẮC QUANG
TỈNH HÀ GIANG
Số: 18/2024/QĐCNTTLH
Bắc Quang, ngày 02 tháng 02 năm 2024

QUYẾT ĐỊNH

CÔNG NHẬN THUẬN TÌNH LY HÔN

VÀ SỰ THỎA THUẬN CỦA CÁC BÊN THAM GIA HÒA GIẢI TẠI TÒA ÁN

Căn cứ vào các Điều 32, Điều 33, Điều 34 và Điều 35 của Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án;

Căn cứ vào các Điều 55, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 107, Điều 110, Điều 116, Điều 117 của Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ yêu cầu Tòa án công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của chị Trương Thị L và anh Đặng Văn T, về quan hệ hôn nhân, về việc nuôi con chung, về tài sản chung, công nợ chung. Sau khi nghiên cứu:

- Đơn khởi kiện đề ngày 12 tháng 01 năm 2024; về việc yêu cầu ly hôn của chị Trương Thị L.

- Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải ngày 17 tháng 01 năm 2024 về thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các bên tham gia hòa giải sau đây:

Người khởi kiện: Chị Trương Thị L, sinh năm 2001; dân tộc: Dao; địa chỉ nơi cư trú: Thôn K, xã Y, huyện H, tỉnh Tuyên Quang;

Người bị kiện: Anh Đặng Văn T, sinh năm 1999; dân tộc: Dao; địa chỉ nơi cư trú: Tổ A, thị trấn V, huyện B, tỉnh Hà Giang.

Các tài liệu kèm theo Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải do Hòa giải viên chuyển sang Tòa án và các tài liệu do Tòa án thu thập được theo quy định tại khoản 2 Điều 32 của Luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Việc thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các bên tham gia hòa giải được ghi trong Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải ngày 17 tháng 01 năm 2024 có đủ các điều kiện quy định tại Điều 33 của Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các bên tham gia hòa giải được ghi trong Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải ngày 17 tháng 01 năm 2024, cụ thể như sau:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Trương Thị L và anh Đặng Văn T tự nguyện thuận tình ly hôn.

Về việc nuôi con: Chị Trương Thị L và anh Đặng Văn T thống nhất thỏa thuận giao hai cháu Trương Anh T1, sinh ngày 07/12/2017 và cháu Đặng Gia B, sinh ngày 28/12/2019 cho chị L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục hai cháu cho đến khi hai cháu đủ 18 tuổi, anh T có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi hai cháu. Mức cấp dưỡng đối với cháu Trương Anh T1 là 1.500.000đ (Một triệu năm trăm nghìn đồng) trên một tháng cho đến khi cháu T1 đủ 18 tuổi. Mức cấp dưỡng đối với cháu Đặng Gia B là 1.500.000đ (Một triệu năm trăm nghìn đồng) trên một tháng cho đến khi cháu B đủ 18 tuổi. Thời gian cấp dưỡng nuôi hai cháu kể từ tháng 02/2024 cho đến khi hai cháu đủ 18 tuổi. Phương thức cấp dưỡng nuôi hai cháu theo định kỳ mỗi tháng một lần. Người nhận tiền cấp dưỡng nuôi hai cháu là chị Trương Thị L.

Số tiền nói trên kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu số tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi xuất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền đi lại thăm nom con, không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này. Vì quyền lợi của con chung, sau này anh T, chị L có quyền thay đổi về cấp dưỡng nuôi con và người trực tiếp nuôi con theo quy định của pháp luật.

Về chia tài sản chung, công nợ chung: Chị Trương Thị L và anh Đặng Văn T không yêu cầu Toà án giải quyết.

2. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ký, không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và được thi hành theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự.

Cỡ chữ