- Tranh chấp gì? "Quyết định số 18/2024/QĐ-TA ngày 31/7/2024"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người bị đề nghị Y Thiếu N.
- Căn cứ chính? Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 95 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Luật Xử lý vi phạm hành chính số 15/2012/QH13
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG BÚK TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 18/2024/QĐ-TA | Krông Búk, ngày 31 tháng 7 năm 2024. |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính
đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc
TÒA ÁN NHÂN DÂN KRÔNG BÚK, TỈNH ĐẮK LẮK
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
Thẩm phán: Ông Lê Anh Thái.
Thư ký phiên họp: Ông Nguyễn Quốc Đạt.
Ngày 31 tháng 7 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Krông Búk tiến hành mở phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 18/2024/QĐ-TA ngày 19/7/2024, đối với người bị đề nghị:
Họ và tên: Y Thiếu N, sinh ngày 06/7/2000; giới tính: Nam; nơi sinh: tỉnh Đăk Lắk; CCCD số: 066200004584; Nơi cấp: Cục C về TTXH; dân tộc: Ê đê; trình độ học vấn: 6/12; nơi cư trú: Buôn Đrao, xã C, huyện K, tỉnh Đắk Lắk; Chỗ ở hiện nay: Cơ sở cai nghiện ma tuý tỉnh Đắk Lắk; địa chỉ: xã T, huyện K, tỉnh Đắk Lắk ; nghề nghiệp: Làm nông; con ông Y Gul M, sinh năm 1976 (đã chết) và bà H Lung N1, sinh năm 1980; Hiện cư trú tại: Buôn Đ, xã C, huyện K, tỉnh Đắk Lắk; Tiền án: Không; Tiền sự: Không.
Người bị đề nghị: Y Thiếu N – vắng mặt.
Có sự tham gia của:
1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Trần Kim B – Chuyên viên Phòng Lao đông – Thương binh và Xã hội huyện K– Đại diện theo ủy quyền (văn bản ủy quyền số 13/GUQ-LĐTBXH ngày 09/7/2024 của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện K).
2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Búk: Bà Trương Thị Thảo Ngọc - Kiểm sát viên.
3. Với sự có mặt của bà H Lung N1, sinh năm 1980 (mẹ đẻ của Y Thiếu N).
Địa chỉ: Buôn Đ, xã C, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.
NHẬN THẤY:
Ngày 25/6/2024, Y Thiếu N có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý và có bản tường trình về việc sử dụng trái phép chất ma tuý tại Công an xã C. Ngày 26/6/2024, Công an xã C, huyện K có Giấy đề nghị số 188a/GĐN-CAX đề nghị Trung tâm y tế huyện K xác định tình trạng nghiện ma tuý của Y Thiếu N. Tại Phiếu kết quả xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể ngày 26/6/2024 của Trung tâm y tế huyện K về việc xác định người nghiện ma túy, đã kết luận: Tét nhanh ma túy Morphin trong nước tiểu, có kết quả: Dương tính. Xác định Y Thiếu N có nghiện ma túy, loại ma túy sử dụng là M1.
Ý kiến của đại diện Cơ quan đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện K:
Người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc được xác định là nghiện ma tuý, loại ma tuý sử dụng là Morphin (H), Công an xã C, huyện K đã yêu cầu anh Y Thiếu N đăng ký và thực hiện việc đăng ký cai nghiện tự nguyện, nhưng anh Y T1 không đăng ký và không tham gia cai nghiện tự nguyện là vi phạm vào khoản 1 Điều 32 Luật Phòng chống ma tuý số 73/2021/QH14 ngày 30/12/2021. Theo quy định tại khoản 1 Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính, đề nghị Toà án nhân dân huyện Krông Búk áp dụng biện pháp đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời hạn 18 tháng đối với người bị đề nghị Y Thiếu N.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát: Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện K đề nghị Toà án nhân dân huyện Krông Búk áp dụng biện pháp biện pháp đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người bị đề nghị là phù hợp, hồ sơ đầy đủ, đúng quy định của pháp luật nên đề nghị Tòa án chấp nhận đề nghị. Về thời hạn cai nghiện bắt buộc đề nghị áp dụng thời hạn từ 18 tháng đến 24 tháng.
Tại bản tường trình, biên bản làm việc ngày 26/6/2024, về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, người bị đề nghị Y Thiếu N trình bày:
Anh Y Thiếu N bắt đầu sử dụng ma tuý từ tháng 6/2023, loại ma túy sử dụng là M1 (H), tần suất sử dụng 01 ngày/lần, hình thức sử dụng là tiêm trích trực tiếp vào cơ thể. Anh Y Thiếu N đã được Công an xã C hướng dẫn đăng ký và tham gia cai nghiện ma tuý tự nguyện. Tuy nhiên bản thân anh Y Thiếu N biết mình đã nghiện ma tuý từ lâu, anh không đăng ký và không tham gia cai nghiện tự nguyện vì biết sẽ không cai nghiện thành công, anh Y Thiếu N đề nghị được đưa đi cai nghiện ma túy bắt buộc theo quy định của pháp luật.
Ý kiến trình bày của bà H Lung N1 (là mẹ đẻ của Y Thiếu N).
Gia đình bà H Lung N1 biết anh Y T1 sử dụng và nghiện ma túy từ năm 2023, gia đình đã khuyên bảo và đưa Y T1 đi cai nghiện tự nguyện tại Hà Nội với thời gian 01 năm nhưng không có kết quả, sau khi đi cai nghiện tự nguyện về Y T1 lại tiếp tục sử dụng ma tuý. Bản thân anh Y T1 cũng biết mình nghiện ma túy và tự nguyện yêu cầu được đi cai nghiện bắt buộc. Gia đình bà H Lung N1 hoàn toàn đồng ý với việc lập hồ sơ đưa anh Y T1 vào Cơ sở cai nghiện ma túy bắt buộc của Cơ quan có thẩm quyền. Vì điều kiện gia đình bà H Lung N1 rất khó khăn, không có điều kiện để tiếp tục đưa anh Y T1 đi cai nghiện tự nguyện tại cơ sở y tế được. Vì vậy gia đình anh Y T1 đề nghị Tòa án xem xét quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Y T1 với thời hạn 02 năm để Y T1 có thể cai nghiện thành công.
Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ, trên cơ sở xem xét toàn diện, đầy đủ các tài liệu, chứng cứ, ý kiến đại diện cơ quan đề nghị Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện K, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Búk.
XÉT THẤY:
1. Về tố tụng: Về thẩm quyền: Căn cứ khoản 2 Điều 105 Luật xử lý vi phạm hành chính số 15/2012/QH13 ngày 20/6/2012; Điều 3 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân thì việc đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Y Thiếu N thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Krông Búk, tỉnh Đắk Lắk.
Về thời hiệu: Căn cứ quy định tại điểm d khoản 2 Điều 6 Luật xử lý vi phạm hành chính; Điều 40 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số Điều của Luật phòng, chống ma túy; khoản 1 điều 9 nghị quyết số 04/2015/NQ-HĐTP ngày 24/12/2015 của hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cao, Hướng dẫn thi hành một số quy định của pháp luật về xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân, xác định hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đối với Y Thiếu N đảm bảo đúng thời hiệu.
Về hồ sơ đề nghị: Đã đảm bảo đúng trình tự theo quy định tại khoản 5 Điều 1 Luật xử lý vi phạm hành chính sửa đổi năm 2020; khoản 2 Điều 104 của Luật xử lý vi phạm hành chính; Điều 41, 42, 43 Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số Điều của Luật phòng, chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện.
2. Về nội dung: Người bị đề nghị anh Y Thiếu N thừa nhận mình sử dụng và nghiện ma tuý từ tháng 6/2023, loại ma túy sử dụng là M1 (H), tần suất sử dụng 01 lần/ngày, hình thức sử dụng là tiêm trích trực tiếp vào cơ thể. Anh Y Thiếu N đã được gia đình đưa đi cai nghiện tự nguyện nhưng không có kết quả. Ngày 26/6/2024 Công an xã C đã có giấy đề nghị Trung tâm y tế huyện K xác định tình trạng nghiện ma tuý đối với Y T1. Sau khi có kết quả xác định tình trạng nghiện ma tuý của Trung tâm y tế huyện K, anh Y T1 đã được Công an xã C hướng dẫn đăng ký và tham gia cai nghiện ma tuý tự nguyện. Tuy nhiên bản thân anh Y Thiếu N biết mình đã nghiện ma tuý từ lâu, anh không đăng ký và không tham gia cai nghiện tự nguyện vì biết sẽ không cai nghiện thành công, nên anh Y Thiếu N đề nghị được đưa đi cai nghiện ma túy bắt buộc theo quy định của pháp luật.
Căn cứ khoản 2 Điều 95; khoản 1 Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính, hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của anh Y Thiếu N đủ điều kiện áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Xét hồ sơ đề nghị Toà án áp dụng biện pháp đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện K đã đầy đủ, đúng quy định tại Điều 103 của Luật xử lý vi phạm hành chính; người bị đề nghị Y Thiếu N và gia đình có nguyện vọng được đi cai nghiện tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Đắk Lắk nên cần chấp nhận và áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Y Thiếu N với thời hạn 02 năm để đảm bảo việc chữa bệnh, lao động, học văn hóa, học nghề dưới sự quản lý của Cơ sở cai nghiện bắt buộc là phù hợp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 32 Luật phòng, chống ma túy;
Căn cứ khoản 2 Điều 9; Điều 95; khoản 1 Điều 96; Điều 103; Điều 105; Điều 106 của Luật xử lý vi phạm hành chính; Điều 40; 41; 54 Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số Điều của Luật phòng, chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện.
Căn cứ Điều 3; Điều 23; 30; 31; 32 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15, ngày 13/12/2022 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.
Căn cứ Nghị quyết số 04/2015/NQ-HĐTP ngày 24/12/2015 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định của pháp luật về xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người bị đề nghị Y Thiếu N.
Nơi chấp hành: Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Đắk Lắk tại xã T, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.
2. Thời gian chấp hành tại Cơ sở cai nghiện bắt buộc là 02 (hai) năm, kể từ ngày ngày 01/7/2024, là ngày người bị đề nghị Y Thiếu N được giao cho Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Đắk Lắk quản lý trong thời gian lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. (Theo biên bản giao nhận ngày 01/7/2024 giữa Công an huyện K và Cơ sở cai nghiện ma tuý tỉnh Đắk Lắk).
3. Quyền khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị:
Người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính có quyền khiếu nại quyết định của Tòa án trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc quyết định được niêm yết; Thời hạn kiến nghị của cơ quan đề nghị, kháng nghị của Viện kiểm sát cùng cấp là 05 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Cơ quan Thi hành quyết định: Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện K có trách phiệm phối hợp với Công an huyện K đưa người phải chấp hành Quyết định vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đắk Lắk; - Phòng LĐTB & XH huyện Krông Búk; - VKSND huyện Krông Búk; - CA huyện Krông Búk; - Cơ sở điều trị, cai nghiện ma túy tỉnh Đắk Lắk; - UBND; Công an xã Cư Né; - Người bị đề nghị; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN Đã ký Lê Anh Thái |