vanban.org

Quyết định 18/2023/QĐ-TA

TAND TP. Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh Tuyên án 05/09/2023 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn N.

Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 21 (hai mươi mốt) tháng, kể từ ngày cơ sở cai nghiện ma túy bắt buộc tỉnh Quảng Ninh (địa chỉ: thôn Đ, xã V, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh) tiếp nhận quản lý người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính. Nguyễn Văn N có quyền khiếu nại Quyết định nà… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Nguyễn Văn N"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn N.
  • Căn cứ chính? Điều 110 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Nghị định số 116/2021/NĐ-CP Quy định chi tiết một số điều củ…; Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ M

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH QUẢNG NINH
Số: 18/2023/QĐ-TA
M, ngày 05 tháng 9 năm 2023

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ M, TỈNH QUẢNG NINH

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

Thẩm phán: ông Nguyễn Thùy Dương

Thư ký phiên họp: bà Nguyễn Thị Ngọc Anh

Ngày 05 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố M, tỉnh Quảng Ninh tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 18/2023/QĐ-TA ngày 30 tháng 8 năm 2023, đối với:

Họ và tên: Nguyễn Văn N; giới tính: nam; sinh ngày 24 tháng 6 năm 1985; căn cước công dân số: 031085004074; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; trình độ văn hóa: 9/12; nguyên quán: xã K, huyện T, thành phố Hải Phòng; nơi đăng ký thường trú: thôn 1, xã K, huyện T, thành phố Hải Phòng; nơi ở hiện nay: sống lang thang, không có nơi ở cố định tại thành phố M; nghề nghiệp: không; tiền án: không; tiền sự: ngày 28/12/2021, Tòa án nhân dân thành phố C, tỉnh Quảng Ninh áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 18 (mười tám) tháng, kể từ ngày 23/11/2021; con ông Nguyễn Văn N và bà Vũ Thị Ầ. Vắng mặt tại phiên họp, có lý do.

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: ông Trần Nguyên Ngọc - Phó Trưởng phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố M (theo Giấy ủy quyền số: 18/GUQ, ngày 05/9/2023 của Trưởng phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố M về việc ủy quyền tham gia phiên họp).

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố M: ông Vương Hải Nam - Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Hồi 15 giờ 20 phút, ngày 25/7/2023, Công an xã H, thành phố M phát hiện Nguyễn Văn N có biểu hiện nghi vấn vi phạm pháp luật nên tổ công tác Công an xã H yêu cầu về trụ sở Công an xã H lập biên bản kiểm tra hành chính, cùng ngày Công an xã H lập biên bản về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; đồng thời lập bản tóm tắt lý lịch của của Nguyễn Văn N, thể hiện, nơi thường trú của N tại thôn 1, xã K, huyện T, thành phố Hải Phòng nhưng N đã sống lang thang, không có nơi ở cố định tại thành phố M.

Tại Phiếu kết quả xét nghiệm sinh hóa nước tiểu của Trung tâm Y tế thành phố M ngày 25/7/2023, đối với Nguyễn Văn N thể hiện kết quả dương tính với ma túy (định tính morphin)

Tại Phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy của Trung tâm Y tế thành phố M ngày 29/7/2023, xác định: anh Nguyễn Văn N nghiện ma túy, loại: “Heroine”.

Tại bản tường trình và biên bản ghi lời khai của Nguyễn Văn N đều thừa nhận bản thân nghiện ma túy từ năm 2019. Ngày 22/7/2023 N có sử dụng ma túy Heroine, đến trưa ngày 25/7/2023 do thèm sử dụng ma túy nên N đi tìm mua ma túy Heroine để sử dụng thì bị Công an xã H phát hiện lập biên bản kiểm tra hành chính.

Tại phiếu trả lời xác minh của Công an K đã xác định Nguyễn Văn N đăng ký thường trú tại thôn 1, xã K, huyện T, thành phố Hải Phòng nhưng thường xuyên vắng mặt tại địa phương, không khai báo tạm vắng. Xác định N là đối tượng nghiện ma túy sống lang thang, không có nơi ở ổn định và N đã có lời khai về việc không đăng ký cai nghiện tự nguyện tại cơ sở cai nghiện ma túy.

Ngày 31/7/2023, Ủy ban nhân dân xã H, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh ban hành Quyết định số: 117/QĐ-QLNN về việc quản lý người nghiện ma túy trong thời gian làm thủ tục đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Cùng ngày, Công an xã H, thành phố M đã bàn giao Nguyễn Văn N vào Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Quảng Ninh để quản lý theo quyết định nêu trên.

Ý kiến của đại diện Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố M thể hiện tại Văn bản số: 18/ĐN-CNBB ngày 25/8/2023 đề nghị xem xét, áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn N tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Quảng Ninh (địa chỉ: thôn Đ, xã V, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh).

Tại phiên họp, đại diện Phòng Lao động Thương binh và Xã hội thành phố M giữ nguyên quan điểm trong Văn bản số 18 nêu trên và đề nghị thời gian chấp hành cai nghiện là từ 21 (hai mươi mốt) tháng đến 24 (hai mười bốn) tháng, để N có thời gian chữa trị, phục hồi.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về trình tự thực hiện thủ tục và giải quyết việc xem xét, đề nghị áp dụng biện pháp hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn N đã được Phòng Lao động Thương binh và Xã hội thành phố M, Tòa án nhân dân thành phố M thực hiện đầy đủ và đúng theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, ngày 31/7/2023, UBND xã H ra Thông báo số: 31/TB-UBND về việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc và gửi cho Nguyễn Văn N đọc, nghiên cứu hồ sơ, N không đề nghị được sao chép hồ sơ. Nhưng đến ngày 24/8/2023, UBND xã H mới gửi văn bản đề nghị kèm hồ sơ cho Trưởng phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố M là vi phạm Điều 104 Luật xử lý vi phạm hành chính 2020, điểm a khoản 4 Điều 42 Nghị định 116 quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng, chống ma túy, Luật Xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy. Căn cứ Điều 6, Điều 95, khoản 1 Điều 96, Điều 103, Điều 104 của Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020) đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn N trong thời hạn từ 18 (mười tám) tháng đến 24 (hai mười bốn) tháng.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên họp, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của cơ quan đề nghị, ý kiến của Kiểm sát viên.

Người bị đề nghị: quá trình giải quyết việc, cơ quan có thẩm quyền đã tống đạt hợp lệ các văn bản cho Nguyễn Văn N theo quy định của pháp luật, anh N có ý kiến đề nghị giải quyết vắng mặt.

Sau khi nghiên cứu toàn bộ hồ sơ vụ việc và ý kiến của những người tham gia phiên họp.

XÉT THẤY:

Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn N, do Phòng Lao động Thương binh và Xã hội thành phố M lập là hợp pháp, đúng trình tự pháp luật quy định. Tuy nhiên, ngày 31/7/2023, UBND xã H ra Thông báo số: 31/TB-UBND về việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc và gửi cho Nguyễn Văn N đọc, nghiên cứu hồ sơ, N không đề nghị được sao chép hồ sơ. Nhưng đến ngày 24/8/2023, UBND xã H mới gửi văn bản đề nghị kèm hồ sơ cho Trưởng phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố M là vi phạm Điều 104 Luật xử lý vi phạm hành chính 2020, điểm a khoản 4 Điều 42 Nghị định 116 quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng, chống ma túy, Luật Xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy.

Nguyễn Văn N là người đã thành niên, nhận thức và biết rõ việc sử dụng trái phép ma túy là vi phạm pháp luật nhưng không làm chủ được bản thân nên vẫn cố ý thực hiện và đã nghiện ma túy từ đầu năm 2019 đến nay. Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của N là nguy hiểm cho bản thân và ảnh hưởng xấu cho xã hội, còn là nguyên nhân dẫn đến nhiều loại tội phạm khác.

Qua xác minh đã xác định N đăng ký thường trú tại: thôn 1, xã K, huyện T, thành phố Hải Phòng nhưng không sinh sống tại địa phương. N sống lang thang, không có nơi ở và công việc không ổn định tại thành phố M. Nội dung này phù hợp với biên bản kiểm tra hành chính, biên bản về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, bản tường trình về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, biên bản ghi lời khai, phiếu kết quả xét nghiệm sinh hóa nước tiểu, phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy cùng các tài liệu khác có trong đề nghị, có đủ cơ sở để xác định: Nguyễn Văn N là người sử ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên, không đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện, là đối tượng theo khoản 1 Điều 96 Luật xử phạt hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020); hơn nữa, N không đăng ký, không thực hiện cai nghiện tự nguyện phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 32 Luật Phòng chống ma túy. Xét tính chất, mức độ và hậu quả của hành vi vi phạm, do đó, việc đưa N vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là cần thiết, để giúp N được học tập, lao động, chữa bệnh, có cơ hội cai nghiện ma tuý để trở thành công dân có ích cho xã hội.

Xét đề nghị của đại diện Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố M có cơ sở để chấp nhận.

Tình tiết giảm nhẹ: trong quá trình thiết lập hồ sơ, N đã tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi nên xem xét cho N hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020).

Tình tiết tăng nặng: không có.

Tuy nhiên, Nguyễn Văn N có nhân thân xấu, vi phạm lần này đang trong thời hạn 02 năm, kể từ ngày chấp hành xong quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính nhưng lại tái phạm. Do đó, tính đến ngày vi phạm chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính nên cần xem xét khi quyết định thời gian bắt buộc chữa bệnh.

Căn cứ: Điều 6; khoản 2 Điều 9; khoản 2 Điều 95, khoản 1 Điều 96; Điều 103; Điều 104; khoản 2 Điều 105 và điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 110 của Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020); khoản 1 Điều 32 Luật Phòng, chống ma túy năm 2021;

Căn cứ: Điều 3; Điều 24; Điều 30; Điều 31 Pháp lệnh số: 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về “trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Toà án nhân dân”; Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng, chống ma tuý, Luật Xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma tuý và quản lý sau cai nghiện ma tuý.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn N.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 21 (hai mươi mốt) tháng, kể từ ngày cơ sở cai nghiện ma túy bắt buộc tỉnh Quảng Ninh (địa chỉ: thôn Đ, xã V, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh) tiếp nhận quản lý người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính.

3. Nguyễn Văn N có quyền khiếu nại Quyết định này trong thời hạn 05 (năm) ngày làm việc, kể từ ngày nhận được Quyết định này. Cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị và Viện kiểm sát nhân dân thành phố M, tỉnh Quảng Ninh có quyền kháng nghị Quyết định này trong thời hạn 05 (năm) ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố Quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị và kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị và kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định: Công an thành phố M, tỉnh Quảng Ninh; Phòng Lao động Thương binh và Xã hội thành phố M, tỉnh Quảng Ninh; Cơ sở Cai nghiện ma túy tỉnh Quảng Ninh.

Cỡ chữ