vanban.org

Quyết định 18/2019/QĐST-DS — Y/c thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú và quản lý tài sản của người đó

TAND TP. Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai Tuyên án 16/04/2019 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn yêu cầu của ông Nguyễn Thái T về việc “Yêu cầu Thông báo tìm kiếm người vắng mặt nơi cư trú” đối với ông Mai Thu H sinh năm 1972 và bà Trần Ngọc U, sinh năm 1979, có đăng ký thường trú, cư trú cuối cùng tại địa chỉ: A3/341, Kp3, phường V, thành phố B, tỉnh Đồng Nai

Về lệ phí: ông Nguyễn Thái T được miễn. Người yêu cầu ông Nguyễn Thái T được quyền kháng cáo trong hạn 10 ngày kể từ ngày ban hành quyết định. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị trong thời hạn 10 ngày và Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú và quản lý tài sản của người đó — án dân sự — "Ông Nguyễn Thái T yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu của ông Nguyễn Thái T về việc “Yêu cầu Thông báo tìm kiếm người vắng mặt nơi cư trú” đối với ông Mai Thu H sinh năm 1972 và bà Trần Ngọc U, sinh năm 1979, có đăng ký thường trú, cư trú cuối cùng tại địa chỉ: A3/341, Kp3, phường V, thành phố B, tỉnh Đồng Nai
  • Căn cứ chính? Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 64 Bộ luật Dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ B
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 18 /2019/QĐST-DSBiên Hòa, ngày 16 tháng 4 năm 2019

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v Thông báo tìm kiếm người vắng mặt nơi cư trú

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B – TỈNH ĐỒNG NAI

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên họp: Bà Nguyễn Thị Lan Chi

Thư ký phiên họp: ông Phan Văn Tiến – Thư ký Tòa án ND TP- B

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP B, tỉnh Đồng Nai tham gia

Phiên họp: Ông Mai Văn Thông – Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 4 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân TP. B, tỉnh Đồng Nai mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 392/2018/TLST-DS ngày 06/8/2018 về việc: “Thông báo tìm kiếm người vắng mặt nơi cư trú” theo quyết định mở phiên họp số 225/2019/QĐST-DS ngày 01/4/2019, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:

Ông Nguyễn Thái T, sinh năm 1948 ( có mặt)

Cư trú: 161/29/13 đường 30/4, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ

Ông Nguyễn Thái T yêu cầu : “ Thông báo tìm kiếm người vắng mặt nơi cư trú” đối với ông Mai Thu H, sinh năm 1972 và bà Trần Ngọc U, sinh năm 1979, cả hai vắng mặt nơi cư trú cuối cùng tại địa chỉ: A3/341, Kp3, phường V, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Đồng Nai nhận định:

Về thẩm quyền giải quyết việc dân sự: Ngày 18/7/2018 ông Nguyễn Thái T có đơn yêu cầu Thông báo tìm kiếm người vắng mặt đối với ông Mai Thu H, sinh năm 1972 và bà Trần Ngọc U, sinh năm 1979, cả hai vắng mặt nơi cư trú cuối cùng tại địa chỉ: A3/341, Kp3, phường V, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Căn cứ vào khoản 2 Điều 27, khoản 2 điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Việc dân sự trên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân TP.B

Theo ông T trình bày: Ông là nguyên đơn khởi kiện tranh chấp “ Hợp đồng vay tài sản ”, đã được Tòa án nhân dân thành phố B thụ lý giải quyết. Quá trình giải quyết vụ kiện tranh chấp Hợp đồng vay tài sản, Tòa án đã triệu tập mời ông H và bà U đều vắng mặt không đến Tòa án làm việc. Qua xác minh của Tòa án, ngày 08/6/2018 Công an phường V, thành phố B cho biết: “ Ông H và bà U có đăng ký hộ khẩu thường trú tại A3/341, Kp3, phường V, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, nhưng từ tháng 10/2010 ông H, bà U không sinh sống, cư trú địa chỉ trên, ông bà đi đâu, làm gì thì địa phương không nắm rõ”. Mặc khác ông H, bà U bỏ đi nơi khác sinh sống nhưng không thông báo cho ông biết nên ông cũng không biết các ông bà trên ở đâu, nên ông yêu cầu Thông báo tìm kiếm ông H và bà U vắng mặt nơi cư trú để có căn cứ giải quyết vụ án trên cho ông. Đối với yêu cầu của ông Nguyễn Thái T, Thông báo tìm kiếm người vắng mặt nơi cư trú của ông H và bà U là phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP. B: Việc dân sự giải quyết yêu cầu “ Thông báo tìm kiếm người vắng mặt nơi cư trú” từ khi thụ lý đến phiên họp đều đảm bảo đúng quy định tại Điều 382 Bộ luật tố tụng dân sự, các đương sự được xác định đúng tư cách pháp lý, việc cấp tống đạt văn bản tố tụng hợp lệ cho đương sự và chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp nghiên cứu đúng thời gian quy định.

Căn cứ vào tài liệu chứng cứ đã có đủ căn cứ xác định: ông Mai Thu H, sinh năm 1972 và bà Trần Ngọc U, sinh năm 1979, cả hai vắng mặt nơi cư trú cuối cùng tại địa chỉ: A3/341, Kp3, phường V, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, không sinh sống, cư trú tại địa chỉ trên, ông bà đi đâu sinh sống không rõ địa chỉ. Đề nghị Tòa án nhân dân TP. B chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Thái T yêu cầu Thông báo tìm kiếm người vắng mặt nơi cư trú đối với ông H và bà U.

Về lệ phí: ông T được miễn lệ phí tại khoản 2 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 64 Bộ luật Dân sự. Khoản 2 Điều 27, khoản 2 Điều 39, Điều 381; 383; 384; 385 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Áp dụng khoản 2 Điều 12 Nghị quyết quy định về mức thu án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

Chấp nhận đơn yêu cầu của ông Nguyễn Thái T về việc “Yêu cầu Thông báo tìm kiếm người vắng mặt nơi cư trú” đối với ông Mai Thu H sinh năm 1972 và bà Trần Ngọc U, sinh năm 1979, có đăng ký thường trú, cư trú cuối cùng tại địa chỉ: A3/341, Kp3, phường V, thành phố B, tỉnh Đồng Nai

Về lệ phí: ông Nguyễn Thái T được miễn.

- Người yêu cầu ông Nguyễn Thái T được quyền kháng cáo trong hạn 10 ngày kể từ ngày ban hành quyết định. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị trong thời hạn 10 ngày và Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định./-

Cỡ chữ