- Tranh chấp gì? Tranh chấp về thừa kế tài sản — án dân sự — "Tranh chấp về thừa kế tài sản và yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất"
- Tòa quyết gì? Giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số 17/2018/QĐST-DS ngày 30/8/2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam, cụ thể:
- Căn cứ chính? Điều 218 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 18/2019/QĐ-DSPT | Đà Nẵng, ngày 21 tháng 3 năm 2019 |
QUYẾT ĐỊNH
GIẢI QUYẾT VIỆC KHÁNG CÁO ĐỐI VỚI
QUYẾT ĐỊNH ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG
- Với Hội đồng tham gia phiên họp phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên họp: Ông Đặng Kim Nhân.
Các Thẩm phán: Ông Võ Ngọc Thông và ông Trương Công Thi
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên họp: Ông Trần Thanh Tuấn - Kiểm sát viên cao cấp.
Tại Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số 17/2018/QĐST-DS ngày 30/8/2018, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam căn cứ Điều 48, 217, 218, 219 và khoản 2 Điều 273; điểm g khoản 1 Điều 217 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, đình chỉ giải quyết vụ án dân sự “Tranh chấp về thừa kế tài sản và yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”, giữa:
1. Nguyên đơn: Ông K, sinh năm 1944; địa chỉ: trụ sở Doanh nghiệp tư nhân Xí nghiệp may K1 tại Cụm công nghiệp T, phường T, thành phố T1, tỉnh Quảng Nam.
2. Đồng bị đơn:
2.1. Ông C, sinh năm 1932 (đã chết);
2.2. Bà C1 (vợ ông C), sinh năm 1951;
Ông C lúc còn sống và bà C1 trú tại: thôn HA, xã T2, huyện N, tỉnh Quảng Nam.
Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông C gồm bà C1 (vợ ông C) và các con là chị C2; chị C3; chị C4; chị C5; chị C6.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Ủy ban nhân dân huyện N, tỉnh Quảng Nam; địa chỉ: Khối 3, thị trấn N, huyện N, tỉnh Quảng Nam.
3.2. Ông B; địa chỉ: Nhà số 54, đường X2, phường X3, thành phố Đ1, tỉnh Lâm Đồng.
3.3. Bà D; địa chỉ: Nhà số 335/6, tổ 7, thị trấn L1, huyện Đ2, tỉnh Lâm Đồng.
3.4. Bà E, sinh năm 1967; địa chỉ: Nhà số 5, đường N1, phường X4, thành phố Đ1, tỉnh Lâm Đồng.
3.5. Ông F; địa chỉ: Nhà số 24, đường N2, phường X5, thành phố Đ1, tỉnh Lâm Đồng.
3.6. Bà G, sinh năm 1969; địa chỉ: Nhà số 20B, đường V1, phường X6, thành phố Đ1, tỉnh Lâm Đồng.
3.7. Ông H;
3.8. Ông H1;
Ông H và ông H1 cùng địa chỉ: Ấp N3, xã P, huyện T3, tỉnh Đồng Nai.
3.9. Bà L; địa chỉ: Thôn HA, xã T2, huyện N, tỉnh Quảng Nam.
3.10. Bà M; địa chỉ: Nhà số 90/23 đường H2, phường T4, quận T5, thành phố Đà Nẵng.
3.11. Chị C2; địa chỉ: Ngân hàng N4, thành phố Hồ Chí Minh.
3.12. Chị C3; địa chỉ: Trung tâm Thương mại P1, thành phố Đà Nẵng.
3.13. Chị C4, sinh năm 1973; địa chỉ: Nhà số 19 đường T6, khối phố M, phường T7, TP T1, tỉnh Quảng Nam.
3.14. Chị C5, sinh năm 1981; địa chỉ: 47 đường L1, phường H3, thành phố T1, tỉnh Quảng Nam.
3.15. Chị C6, sinh năm 1977; địa chỉ: Nhà số 10 đường L2, phường H4, quận H5, thành phố Đà Nẵng.
3.16. Bà Y (đã chết). Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà Y gồm:
- Anh Y1, chị Y2, chị Y3, chị Y4; cùng địa chỉ: Nhà số 14, đường C1, thị trấn L1, huyện Đ2, tỉnh Lâm Đồng.
- Chị V; địa chỉ: Nhà số 8, đường N5, Quận Z, thành phố Hồ Chí Minh.
Ngày 04/9/2018, ông K kháng cáo Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số 17/2018/QĐST-DS ngày 30/8/2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam, đề nghị cấp phúc thẩm hủy Quyết định sơ thẩm, giao hồ sơ cho Tòa án cấp sơ thẩm tiếp tục giải quyết vụ án, với lý do:
(a). Ngày 22/3/2017, Ông khởi kiện với 02 yêu cầu là yêu cầu chia thừa kế di sản là quyền sử dụng nhà đất của cha mẹ (là vợ chồng cụ X, cụ X1) chết để lại và yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà UBND huyện N cấp cho bị đơn (vợ chồng ông C; ông C là anh ruột ông K) ngày 04/01/1996 đối với nhà đất của cha mẹ để lại.
(b). Theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 217 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì Tòa án đình chỉ giải quyết vụ án khi: “Người khởi kiện rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện hoặc nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai và vẫn vắng mặt, trừ trường hợp họ đề nghị xét xử vắng mặt hoặc vì sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan”. Ngày 28/4/2018 ông C chết nên Ông có Đơn rút yêu cầu khởi kiện yêu cầu chia thừa kế, mà chưa rút yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà UBND huyện N cấp cho “hộ ông C” ngày 04/01/1996; nhưng Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam vẫn quyết định đình chỉ giải quyết vụ án là không đúng pháp luật.
XÉT THẤY:
. Tại Đơn khởi kiện đề ngày 22/3/2017 (bút lục 01), nguyên đơn (ông K) khởi kiện đối với bị đơn (vợ chồng ông C và bà C1) với 02 yêu cầu đề nghị Tòa án giải quyết: (i). Yêu cầu chia thừa kế di sản của cha mẹ (vợ chồng cụ X, cụ X1) chết để lại là nhà đất tại thôn HA, xã T2, huyện N, tỉnh Quảng Nam; (ii). Yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số sêri G688582 (số vào sổ cấp GCN: 0908) ngày 04/01/1996 mà UBND huyện N cấp cho “Hộ: C” đối với quyền sử dụng 3.303m2 đất của cha mẹ để lại tại thôn HA, xã T2, huyện N, tỉnh Quảng Nam. Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam thụ lý theo thủ tục tố tụng dân sự vụ án số 29/2017/TLST-DS ngày 09/5/2017 “Tranh chấp về thừa kế tài sản và yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” giữa nguyên đơn là ông K với bị đơn là vợ chồng ông C và bà C1; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là các con của vợ chồng ông C.
. Ngày 28/4/2018 ông C chết. Ngày 06/8/2018 ông K có Đơn yêu cầu rút một phần đơn khởi kiện có nội dung: xin rút yêu cầu khởi kiện về thừa kế tài sản, giữ nguyên yêu cầu đề nghị Tòa án giải quyết hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số sêri G688582 (số vào sổ cấp GCN: 0908) mà UBND huyện N cấp cho “Hộ: C” ngày 04/01/1996 (bút lục 194).
. Điều 217 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định: “1. Sau khi thụ lý vụ án thuộc thẩm quyền của mình, Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự trong các trường hợp sau đây:…c) Người khởi kiện rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện hoặc nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai và vẫn vắng mặt, trừ trường hợp họ đề nghị xét xử vắng mặt hoặc vì sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan”. Điều 218 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 quy định: “1. Khi có quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, đương sự không có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết lại vụ án dân sự đó, nếu việc khởi kiện vụ án sau không có gì khác với vụ án trước về nguyên đơn, bị đơn và quan hệ pháp luật có tranh chấp, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 192, điểm c khoản 1 Điều 217 của Bộ luật này và các trường hợp khác theo quy định của pháp luật”. Điều 143 Luật tố tụng hành chính năm 2015 quy định: “1. Tòa án quyết định đình chỉ giải quyết vụ án trong các trường hợp sau đây:…g). Thời hiệu khởi kiện đã hết”.
Từ sự kiện pháp lý và các quy định của pháp luật như nêu trên, cấp phúc thẩm xét thấy nội dung Đơn khởi kiện của ông K bao gồm 02 yêu cầu khởi kiện: 01 yêu cầu khởi kiện về dân sự và 01 yêu cầu khởi kiện về hành chính; Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam thụ lý theo thủ tục tố tụng dân sự vụ án “Tranh chấp về thừa kế tài sản và yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” là đúng quy định tại Khoản 1 Điều 34 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, Khoản 1 Điều 34 Luật tố tụng hành chính 2015 và Giải đáp số 02/GĐ-TANDTC ngày 19/9/2018 của Tòa án nhân dân tối cao. Ông K chỉ rút yêu cầu khởi kiện về dân sự nên vẫn còn yêu cầu khởi kiện về hành chính; tuy nhiên, vì vụ án lúc đầu được thụ lý theo thủ tục tố tụng dân sự nên vấn đề thời hiệu khởi kiện vụ án hành chính chưa được đặt ra khi xây dựng hồ sơ vụ án, do đó với các tài liệu hiện có trong hồ sơ vụ án này thì không đủ cơ sở xác định khi ông K khởi kiện (vào ngày 22/3/2017) yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà UBND huyện N cấp cho hộ ông C ngày 04/01/1996 là còn thời hiệu khởi kiện vụ án hành chính, trong khi theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 143 Luật tố tụng hành chính thì Tòa án phải đình chỉ giải quyết vụ án hành chính khi thời hiệu khởi kiện đã hết. Mặt khác, theo quy định tại khoản 1 Điều 218 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 thì trường hợp Tòa án đình chỉ giải quyết vụ án theo điểm c khoản 1 Điều 217 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 thì ông K có quyền khởi kiện lại vụ án dân sự và đương nhiên ông K có quyền kèm theo yêu cầu Tòa án hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà UBND huyện N cấp cho hộ ông C ngày 04/01/1996 mà không cần chứng minh thời hiệu khởi kiện vụ án hành chính vẫn còn. Vì các lý do trên, cấp phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo đề nghị hủy Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số 17/2018/QĐST-DS ngày 30/8/2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam. Ông K kháng cáo không được chấp nhận phải chịu án phí phúc thẩm; tuy nhiên, ông K là người cao tuổi (hiện nay 74 tuổi) là thương binh loại A hạng 2/4 (bút lục 201, 202) nên được miễn án phí theo quy định tại điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Căn cứ điểm a khoản 5, khoản 6 của Điều 314 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;
Căn cứ Khoản 1 Điều 34; Điều 48; điểm g Khoản 1 Điều 217; khoản 1 Điều 218; Điều 219; Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Căn cứ Khoản 1 Điều 34 Luật tố tụng hành chính 2015, Giải đáp số 02/GĐ-TANDTC ngày 19/9/2018 của Tòa án nhân dân tối cao; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số 17/2018/QĐST-DS ngày 30/8/2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam, cụ thể:
- Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 29/2017/TLST-DS ngày 09/5/2017 về “Tranh chấp về thừa kế tài sản và yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” giữa nguyên đơn… (các đương sự có tên và địa chỉ đã nêu tại phần đầu của Quyết định này);
- Hậu quả của việc đình chỉ giải quyết vụ án: Các đương sự có quyền khởi kiện lại vụ án dân sự theo quy định tại khoản 1 Điều 218 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 và có quyền kèm theo yêu cầu Tòa án hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà UBND huyện N đã cấp cho hộ ông C ngày 04/01/1996 theo quy định tại khoản 1 Điều 34 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;
- Án phí dân sự sơ thẩm: Ông K không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, hoàn trả lại cho ông K 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai thu số 0001299 ngày 29/3/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện N, tỉnh Quảng Nam.
2. Án phí phúc thẩm: Ông K được miễn.
3. Quyết định phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày ra quyết định.
| Nơi nhận: - Vụ pháp chế và quản lý khoa học TANDTC; - Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam (để biết); - VKSND cấp cao tại Đà Nẵng (để biết); - Cục Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Nam (để thi hành); - Các đương sự (theo địa chỉ); - Lưu: Phòng lưu trữ và hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP (Đã ký) Đặng Kim Nhân |