vanban.org

Quyết định 18/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: Giao con chung là Vũ Đình G, sinh ngày 08/01/2016 cho anh Vũ Đình H trực tiếp nuôi cho đến lúc trưởng thành.

Về án phí: Căn cứ điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 5 điều 27 Nghị quyết 326/2016/ UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Buộc anh Vũ Đình H phải nộp 300.000 đồng án phí Dân sự sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng anh H đã nộp tại Chi cục Thi hành án Dân s… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Xử: Giao con chung là Vũ Đình G, sinh ngày 08/01/2016 cho anh Vũ Đình H trực tiếp nuôi cho đến lúc trưởng thành.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN YÊNTHÀNH
TỈNH NGHỆ AN
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 18 /2019/HNGĐ-ST
Ngày: 22/3/2019
V/v: "T/c thay đổi người trực tiếp
nuôi con sau ly hôn"
Yên Thành, ngày 22 tháng 3 năm 2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THÀNH - NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Văn Giang.

Các hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Đức Hào.

2. Ông Trần Văn Hân

- Thư ký phiên toà: Ông Phan Thanh Hà – thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Thành – tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thành tham gia phiên tòa: bà Dương Thị Kim Tình - Kiểm sát viên

Ngày 22 tháng 3 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Yên Thành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 58/2019/TLST - HNGĐ ngày 15 tháng 02 năm 2019 về "Tranh chấp thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 18/2019/QĐXX-ST ngày 12 tháng 3 năm 2019 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Anh Vũ Đình H - sinh năm 1988

Địa chỉ cư trú: xóm 4, xã T, huyện Y, tỉnh N(có mặt)

2. Bị đơn: Chị Thái Thị H - sinh năm 1986.

Địa chỉ cư trú: xóm 7, xã X, huyện Y, tỉnh N(có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện đề ngày 13/02/2019, tại bản tự khai và tại phiên tòa, nguyên đơn anh Vũ Đình H trình bày: Anh và chị Thái Thị H trước đây là vợ chồng nhưng đến ngày 25/8/2017 đã được Tòa án huyện Yên Thành xử công nhận thuận tình ly hôn. Đồng thời giao con chung là Vũ Đình G, sinh ngày 08/01/2016 cho chị H trực tiếp nuôi.

Tại thời điểm ly hôn thì chị H đang mang thai con chung thứ 2 được khoảng vài tháng. Sau ly hôn một thời gian thì chị H sinh con và đặt tên là Vũ Đình P, sinh ngày 01/01/2018. Hiện tại chị H đang trực tiếp nuôi 2 con chung và đang ở nhờ tại nhà bố mẹ đẻ tại xã X. Chị H hiện tại làm công nhân cho 1 xưởng may tư nhân, phải làm việc liên tục cả tuần, thu nhập thấp trong lúc chưa có nơi ở nên sẽ gặp nhiều khó khăn trong việc chăm sóc nuôi dạy con cái. Vì vậy, anh đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được trực tiếp nuôi cháu G để san sẻ bớt gánh nặng cho chị H, đồng thời để các con có điều kiện phát triển được tốt hơn.

Tại bản tự khai đề ngày 25/02/2019, tại biên bản lấy lời khai và tại phiên tòa, bị đơn chị Thái Thị H trình bày: Chị thừa nhận nội dung như anh H đã trình bày ở trên. Chị H đang trực tiếp nuôi 2 con chung, các cháu hiện còn nhỏ thường hay ốm đau nên cần có sự chăm sóc của người mẹ. Hơn nữa, chị đang làm công nhân tại địa phương, thu nhập cũng đảm bảo cho việc nuôi con ăn mặc học hành và không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng. Vì vậy, chị không đồng ý với yêu cầu của anh H nêu trên.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Đây là vụ án tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn được quy định tại khoản 3 điều 28 BLTTDS thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án.

Qua xem xét các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ, qua lời khai của các bên đương sự có căn cứ khẳng định rằng: anh H và chị H có 2 con chung là: Vũ Đình G, sinh ngày 08/01/2016 và Vũ Đình P, sinh ngày 01/01/2018. Việc nuôi con là quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của các bậc làm cha mẹ. Nguyện vọng được trực tiếp nuôi con chung của cả hai bên là hoàn toàn chính đáng. Tuy nhiên, cũng phải thấy rằng hiện tại chị H đang một lúc nuôi con nhỏ lại chưa có nơi ở riêng, đang phải ở nhờ tạm bên nhà bố mẹ đẻ. Tuy chị có việc làm nhưng thu nhập mỗi tháng khoảng 5 triệu đồng là ở mức bình thường. Trong lúc anh H có điều kiện hơn về chỗ ở, công việc cũng ổn định và thu nhập cao hơn, mỗi tháng bình quân khoảng 10 triệu đồng. Anh H cũng có nguyện vọng thiết tha được nuôi con, hiện tại con cũng đã trên 3 tuổi. Nếu tiếp tục giao cả 2 con chung cho chị H trực tiếp nuôi thì ít nhiều cũng sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển, thiếu thốn về mọi mặt của cháu G, đồng thời ảnh hưởng cả cháu P. Vì vậy, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh H, giao cho anh H trực tiếp nuôi cháu Vũ Đình G là phù hợp, đúng quy định của pháp luật; giao cho chị H trực tiếp nuôi cháu Vũ Đình P, hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con cho nhau.

Về án phí: Anh H phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Tại phiên Tòa đại diện viện kiểm sát có ý kiến phát biểu: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, HĐXX và Thư ký cụ thể như sau: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện các quy định tại điều 203 BLTTDS năm 2015. Tòa án đã thụ lý đúng thẩm quyền và xác định đúng quan hệ tranh chấp. Việc chấp hành theo pháp luật tố tụng dân sự của thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký đã tuân thủ đúng pháp luật tố tụng dân sự. Tại phiên Tòa Thẩm phán, HĐXX và Thư ký thực hiện đúng trình tự thủ tục tố tụng giải quyết vụ án. Với các tài liệu do đương sự cung cấp và Thẩm phán thu thập có tại hồ sơ. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào: khoản 3 điều 28 Bộ luật tố tụng Dân sự; điều 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và Gia đình.

Xử: Giao con chung là Vũ Đình G, sinh ngày 08/01/2016 cho anh Vũ Đình H trực tiếp nuôi cho đến lúc trưởng thành. Giao con chung là Vũ Đình P, sinh ngày 01/01/2018 cho chị H trực tiếp nuôi cho đến lúc trưởng thành. Hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con cho nhau và đều có quyền qua lại thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền cản trở.

Về án phí: Căn cứ điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 5 điều 27 Nghị quyết 326/2016/ UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Buộc anh Vũ Đình H phải nộp 300.000 đồng án phí Dân sự sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng anh H đã nộp tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Yên Thành theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0003469 ngày 15/02/2019. Anh H đã nộp đủ án phí.

Án xử công khai sơ thẩm. Các đương sự được quyền kháng cáo bản án lên Tòa án cấp phúc thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

TTMM.. HHỘỘII ĐĐỒỒNNGG XXÉÉTT XXỬỬ SSƠƠ TTHHẨẨMM

TTHHẨẨMM PPHHÁÁNN –– CCHHỦỦ TTỌỌAA PPHHIIÊÊNN TTÒÒAA N¬N¬ii ggööii:: -- VVKKSS HH.. YYªªnn TThhµµnnhh -- CC¸¸cc đđưươơnngg ssựự -- TTHHAA DDSS HH.. YYªªnn TThhµµnnhh -- TTAANNDD ttØØnnhh -- UUBBNNDD XXãã -- LưLưuu hhss,, VVPP

PPhhạạmm VVăănn GGiiaanngg

Cỡ chữ