vanban.org

Quyết định 18/2018/QĐST-DS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích

TAND Q. Ngô Quyền, TP. Hải Phòng Tuyên án 17/12/2018 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của chị Vũ T B N:

Tuyên bố anh Phạm N S, sinh năm 1961; nơi cư trú cuối cùng: Số 8 CT2 A8, phường V, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng mất tích. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Tuyên bố một người là mất tích"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của chị Vũ T B N:
  • Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN NGÔ QUYỀN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 18/2018/QĐST-DSQuận Ngô Quyền, ngày 23 tháng 11 năm 2018

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v tuyên bố một người mất tích

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Nguyễn Minh Thu

Thư ký phiên họp: Bà Vũ Thị Thanh Thủy - Thẩm tra viên Toà án, Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Hồng Ly - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 10/2018/TLST-DS ngày 10 tháng 7 năm 2018 về việc yêu cầu tuyên bố một người mất tích theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 765/2018/QĐST-DS ngày 14 tháng 11 năm 2018, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Chị Vũ T B N, nơi cư trú: Số 8 CT2 A8 phường V, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng; có mặt.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Năm 2011, chị Vũ T B N kết hôn với anh Phạm N S trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán và đã làm thủ tục đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường V, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng. Sau khi kết hôn, hai vợ chồng chung sống tại địa chỉ số 8 CT2 A8 phường V, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng và đã có hai con chung. Đến khoảng giữa năm 2013, cuộc sống chung giữa anh S và chị N phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do hai vợ chồng bất đồng về quan điểm sống, tính cách không phù hợp, do mâu thuẫn trong cách nuôi dạy con cái, do chênh lệch quá nhiều về độ tuổi, dẫn đến anh S đã bỏ nhà đi. Chị N và gia đình đã tìm kiếm nhiều nơi nhưng không có tin tức gì của anh S. Vì vậy, chị Vũ T B N yêu cầu Toà án tuyên bố anh Phạm N S mất tích.

Về lệ phí: Chị Vũ T B N nhận nộp toàn bộ lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự.

Tại phiên họp, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng phát biểu quan điểm: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết việc dân sự của Thẩm phán, Thư ký; việc chấp hành pháp luật của người yêu cầu đã đảm bảo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tòa án đã thụ lý vụ án theo đúng thẩm quyền quy định tại khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Căn cứ Điều 68 Bộ luật Dân sự, chấp nhận yêu cầu của chị N, tuyên bố anh Phạm N S mất tích. Căn cứ vào khoản 1 Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự, khoản 1 Điều 37 Nghị quyết 326 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chị N phải nộp 300.000 đồng lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng nhận định:

- Về yêu cầu tuyên bố một người mất tích:

Chị Vũ T B N và anh Phạm N S là vợ chồng từ năm 2011. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống tại địa chỉ số 8 CT2 A8 phường V, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng và đã có hai con chung. Đến năm 2013, cuộc sống chung giữa anh S và chị N phát sinh mâu thuẫn do hai vợ chồng bất đồng về quan điểm sống, tính cách không phù hợp, mâu thuẫn trong cách nuôi dạy con cái, do sự chênh lệch nhiều về độ tuổi, dẫn đến anh S đã bỏ nhà đi. Chị N và gia đình đã tìm kiếm nhiều nơi nhưng không có tin tức gì của anh S. Nơi cư trú cuối cùng của anh Phạm N S trước khi mất tích là số nhà 8 CT2 A8 phường V, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng

Ngày 18 tháng 6 năm 2018, chị Vũ T B N có đơn yêu cầu Toà án tuyên bố mất tích đối với anh Phạm N S. Ngày 10 tháng 7 năm 2018 Toà án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng đã thụ lý việc dân sự yêu cầu tuyên bố anh Phạm N S mất tích theo đơn yêu cầu của chị Vũ T B N; đồng thời thông báo nhắn tìm anh S trên Báo Công lý, Đài tiếng nói Việt Nam, cổng thông tin điện tử của Tòa án nhân dân tối cao và cổng thông tin điện tử của Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng.

Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền đã xác minh tại chính quyền địa phương nơi cư trú cuối cùng của anh S cũng xác nhận, anh S vắng mặt tại nơi cư trú cuối cùng, số nhà 8 CT2 A8 phường V, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng từ giữa năm 2013 đến nay.

Đã hết thời hạn 04 tháng kể từ ngày đăng, phát thông báo nhắn tìm anh S lần đầu tiên, Toà án và gia đình vẫn không nhận được tin tức xác thực về việc anh S còn sống hay đã chết. Vì vậy, cần chấp nhận đơn yêu cầu của chị N về việc yêu cầu tuyên bố anh Phạm N S mất tích.

Về con chung: Anh Phạm N S và chị Vũ T B N có hai con chung là Phạm Ngọc Bích, sinh ngày 25/8/2011 và Phạm Ngọc Hân, sinh ngày 24/12/2012. Từ khi anh S bỏ nhà đi, hai cháu Bích và Hân vẫn ở với chị N cho đến nay.

Về tài sản chung của vợ chồng, chị N không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết.

- Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự:

Chị Vũ T B N phải nộp 300.000 đồng lệ phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 68 của Bộ luật Dân sự;

Căn cứ khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39, khoản 1 Điều 149, các điều 367, 369, 370, 371, 372, 387, 388, 389 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Chấp nhận yêu cầu của chị Vũ T B N:

Tuyên bố anh Phạm N S, sinh năm 1961; nơi cư trú cuối cùng: Số 8 CT2 A8, phường V, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng mất tích.

- Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự:

Chị Vũ T B N phải nộp 300.000 đồng lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự chị N đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng lệ phí số 0014725 ngày 10 tháng 7 năm 2018 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng. Chị Vũ T B N đã nộp đủ lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự

- Quyền kháng cáo, kháng nghị:

Chị Vũ T B N được quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày ra quyết định.

Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày ra quyết định.

Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày ra quyết định.

Cỡ chữ