- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "bà Nguyễn Thị T yêu cầu tuyên bố ông Hoàng Trọng Th mất tích"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị T. Tuyên bố ông Hoàng Trọng Th – sinh năm 1959, nơi cư trú cuối cùng: xóm 3, xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa - đã mất tích.
- Căn cứ chính? Điều 361 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 366 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 370 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN ND HUYỆN NGA SƠN TỈNH THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 18/2018/QĐDS-ST Ngày 27/8/2018 V/v yêu cầu tuyên bố một người mất tích. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGA SƠN, TỈNH THANH HÓA
Với thành phần giải quyết việc dân sự:
Chủ tọa phiên họp: Ông Bùi Trung Thu - Thẩm phán.
Thư ký phiên họp: Ông Phan Thanh Tùng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên họp: Bà Trịnh Thị Hiền - Kiểm sát viên.
Trong ngày 27 tháng 8 năm 2018 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện N mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 08/2018/TLST-VDS ngày 11 tháng 4 năm 2018 về yêu cầu “Tuyên bố một người mất tích” theo Quyết định mở phiên họp số: 19/2018/QĐPH-ST ngày 10 tháng 8 năm 2018.
1. Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Nguyễn Thị T - Sinh năm 1961.
Địa chỉ: xóm 3, xã N huyện N, tỉnh Thanh Hóa,(có mặt).
2.Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Hoàng Trọng Th – sinh năm 1959.
Địa chỉ: xóm 3, xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa,(vắng mặt).
Nơi cư trú cuối cùng: xóm 3, xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.
3.Những vấn đề cụ thể yêu cầu Tòa án giải quyết: Theo đơn yêu cầu và bản tự khai của bà Nguyễn Thị T: Bà T và ông Hoàng Trọng Th – sinh năm 1959 kết hôn với nhau ngày 21/5/1997 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hạnh phúc được thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Ông Th thường xuyên có hành vi lăng mạ tổ tiên, đánh đập vợ, con. Đến năm 2003 ông Th bỏ đi khỏi gia đình và địa phương đến nay không trở về lần nào và không biết đi đâu, làm gì. Bà T cũng đã nhiều lần tìm kiếm, hỏi thăm bạn bè, nhưng không có tin tức gì của ông Th, để ổn định cuộc sống bà T làm đơn đề nghị Tòa án nhân dân huyện N tuyên bố ông Hoàng Trọng Th mất tích. Về tài sản giữa bà T và ông Th không có tài sản chung gì và ông Th không có tài sản riêng, nên bà T không yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp quản lý về tài sản.
Sau khi bà Nguyễn Thị T có đơn yêu cầu. Tòa án nhân dân huyện N ra Quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích. Thông báo đã được nhắn tin trên Đài tiếng nói Việt Nam và báo Nhân dân theo đúng qui định của Bộ luật tố tụng dân sự.
NHẬN ĐỊNH:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm định tại phiên họp và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện N nhận định: Việc ông Th bỏ nhà đi từ năm 2003 đến nay là thực tế, các tài liệu phản ánh trong hồ sơ và ý kiến trình bày của bà T, thể hiện từ đó đến nay bà T không có tin tức gì của ông Th. Tòa án nhân dân huyện N đã áp dụng biện pháp tìm kiếm, đăng tin, nhắn tìm trên các phương tiện thông tin đại chúng. Cụ thể là: Nhắn tin trên báo Nhân dân 3 số liên tiếp từ ngày 21,22,23 tháng 4 năm 2018, nhắn tin trên Đài tiếng nói Việt Nam phát lúc 11 giờ 50 phút từ ngày 24,25,26 tháng 4 năm 2018. Đến nay đã hết thời hạn thông báo nhắn tin theo qui định của pháp luật, nhưng vẫn không có tin tức gì của ông Th. Như vậy có đủ cơ sở là ông Th đã mất tích, do đó nghĩ cần chấp nhận yêu cầu của bà T về việc tuyên bố ông Hoàng Trọng Th - mất tích.
-Về tài sản: Ông Hoàng Trọng Th không có tài sản riêng và bà T không yêu cầu nên không phải áp dụng biện pháp quản lý tài sản của người mất tích theo qui định của Bộ luật dân sự.
-Về chi phí đăng tin, phát thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích. Theo qui định tại khoản 2 Điều 385 Bộ luật tố tụng dân sự thì chi phí trên do người yêu cầu phải chịu. Do vậy bà Nguyễn Thị T phải chịu chi phí đăng tin phát thông báo.
-Về lệ phí: Bà Nguyễn Thị T phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự theo qui định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng khoản 1 Điều 68 Bộ luật dân sự; Điều 361; 366; 370; 371; 372; 387; 388; 389 của Bộ luật tố tụng dân sự. Khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 Qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1.Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị T. Tuyên bố ông Hoàng Trọng Th – sinh năm 1959, nơi cư trú cuối cùng: xóm 3, xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa - đã mất tích.
2.Về lệ phí: Bà Nguyễn Thị T phải chịu 300.000đ(Ba trăm nghìn đồng) lệ phí giải quyết việc dân sự. Nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí đã nộp theo biên lai số: AA/201 /000 ngày /4/2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện N. Bà T đã nộp đủ lệ phí việc dân sự.
Phiên họp sơ thẩm công khai có mặt bà T. Báo cho bà T biết được quyền kháng cáo Quyết định này trong hạn 10 ngày kể từ ngày ra quyết định. Viện kiểm sát nhân dân huyện Nga Sơn; Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa có quyền kháng nghị quyết định này theo qui định của pháp luật
| Nơi nhận: -Người yêu cầu, người bị yêu cầu; -VKSND huyện Nga Sơn - Chi cục THADS huyện Nga Sơn; - UBND xã Nga Mỹ; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN Bùi Trung Thu |