vanban.org

Quyết định 178/2021/QĐST-DS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích

TAND Q. Tân Bình, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 04/11/2021 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của ông Hoàng Hữu N:

Tuyên bố Bà Huỳnh Thị Thúy V, sinh năm 1996, nơi cư trú cuối cùng tại Đường B, Phường K, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh mất tích. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) do ông Hoàng Hữu N chịu được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) ông Hoàng … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "tuyên bố mất tích"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của ông Hoàng Hữu N:
  • Căn cứ chính? Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 37 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 178/2021/QĐST-DSTân Bình, ngày 04 tháng 11 năm 2021

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v Yêu cầu tuyên bố một người mất tích

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Nguyễn Thị Nhoán.

Thư ký phiên họp: Bà Dương Thị Ngọc Lữ - Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên họp: Bà Võ Ngọc Liên Hương- Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 11 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 88/2021/TLST-DS ngày 20/4/2021 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích” theo quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 53/2021/QĐST-DS ngày 14 tháng 10 năm 2021, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu: Ông Hoàng Hữu N, sinh năm 1982. Địa chỉ: Đường S, Phường H, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.

(Ông Hoàng Hữu N có đơn xin vắng mặt).

- Người bị yêu cầu: Bà Huỳnh Thị Thúy V, sinh năm 1996. Địa chỉ: Đường B, Phường K, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

(Bà Huỳnh Thị Thúy V vắng mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Huỳnh Công T, sinh năm 1970;

2. Bà Nguyễn Thị Thanh T, sinh năm 1970.

Cùng địa chỉ: Đường B, Phường K, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

(Ông T và bà T vắng mặt).

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Ông Hoàng Hữu N nộp đơn yêu cầu Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh tuyên bố Bà Huỳnh Thị Thúy V, sinh năm 1996, nơi cư trú cuối cùng tại Đường B, Phường K, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh mất tích.

- Theo đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự và bản tự khai ông Hoàng Hữu N trình bày: Ông Hoàng Hữu N và bà Huỳnh Thị Thúy Vi có đăng ký kết hôn theo giấy chứng nhận kết hôn số 116 ngày 02/10/2018 tại UBND Phường 9, quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh. Sau khi kết hôn ông Hoàng Hữu N và Bà Huỳnh Thị Thúy V không sống chung với nhau một ngày nào nên không có con chung, tài sản chung, nợ chung. Do, ông muốn ly hôn dứt khoát để ổn định cuộc sống. Tuy nhiên, do nhà vợ đã bán nhà đi đâu không rõ và Bà Huỳnh Thị Thúy V đi đâu không rõ từ năm 2017 đến nay, ông Hoàng Hữu N đã tìm kiếm khắp nơi nhưng không có tin tức của vợ ông, gia đình vợ cũng không liên lạc được với Bà Huỳnh Thị Thúy V. Nay ông Hoàng Hữu N làm đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố bà Huỳnh Thị Thúy Vi mất tích để ông làm thủ tục ly hôn. Phát biểu của Đại diện viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình: Về tố tụng: Tòa án thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền; xác định đúng tư cách pháp lý của những người tham gia tố tụng; quan hệ pháp luật tranh chấp; việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử là đúng quy định Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Về nội dung: Đề nghị chấp nhận yêu cầu của ông Hoàng Hữu N tuyên bố Bà Huỳnh Thị Thúy V mất tích.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp, ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân quận Tân Bình nhận định: [1] Về thẩm quyền giải quyết: Ông Hoàng Hữu N có đơn yêu cầu tuyên bố Bà Huỳnh Thị Thúy V, sinh năm 1996; địa chỉ cư trú cuối cùng tại Đường B, Phường K, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh mất tích. Đây là yêu cầu về dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Tân Bình theo quy định tại khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. [2] Xét yêu cầu của ông Hoàng Hữu N về việc yêu cầu tuyên bố Bà Huỳnh Thị Thúy V mất tích: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân quận Tân Bình đã ra Quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích số: 88.1/2021/TAQTB ngày 22/4/2021 đối với Bà Huỳnh Thị Thúy V, đã thực hiện thủ tục đăng thông tin trên cổng thông tin điện tử của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Ông Hoàng Hữu N tiến hành việc tìm kiếm Bà Huỳnh Thị Thúy V trên các phương tiện truyền thông, cụ thể là nhắn tin tìm kiếm trên báo Thanh niên các số 119, 120, 121 vào các ngày 29/4/2021, 30/4/2021 và ngày 01/5/2021 và đăng tin trên Đài tiếng nói Việt Nam các ngày 10, 11 và 12/5/2021 nhưng đến nay vẫn không có tin tức gì xác thực là Bà Huỳnh Thị Thúy V ở đâu, còn sống hay đã chết.

Căn cứ vào kết quả xác minh của Công an Phường 14, quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh thì: ‘‘Huỳnh Thị Thúy Vi, Huỳnh Công T, Nguyễn Thị Thanh Thúy, có đăng ký HKTT tại Đường B, Phường K, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. Cả hộ 03 nhân khẩu trên bán nhà đi đâu không rõ từ năm 2018, không khai báo với địa phương, không thực tế cư trú tại địa phương”.

Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát Nhân dân quận Tân Bình đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của ông Hoàng Hữu N về việc tuyên bố Bà Huỳnh Thị Thúy V mất tích.

Xét thấy: Bà Huỳnh Thị Thúy V đã biệt tích 02 năm liền trở lên, mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc người đó còn sống hay đã chết nên Tòa án có đủ cơ sở chấp nhận yêu cầu của ông Hoàng Hữu N về việc tuyên bố Bà Huỳnh Thị Thúy V mất tích theo quy định tại khoản 1 Điều 68 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Căn cứ Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Ông Hoàng Hữu N phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự là 300.000 đồng

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 68 Bộ luật Dân sự;

Căn cứ khoản 4 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39, Điều 370, Điều 371, Điều 372, Điều 388, Điều 389 Bộ luật Tố tụng Dân sự;

Căn cứ Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của ông Hoàng Hữu N:

Tuyên bố Bà Huỳnh Thị Thúy V, sinh năm 1996, nơi cư trú cuối cùng tại Đường B, Phường K, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh mất tích.

2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) do ông Hoàng Hữu N chịu được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) ông Hoàng Hữu N đã nộp theo biên lai thu số 0069361 ngày 15/4/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Bình.

3. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 (Mười) ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc quyết định được niêm yết tại địa phương. Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình được quyền kháng nghị trong thời hạn 10 (Mười) ngày, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh được quyền kháng nghị trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

4. Quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu thi hành án: Trong trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ