vanban.org

Quyết định 176/2026/QĐST-DS — Tranh chấp về thừa kế tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về thừa kế tài sản — án dân sự — "Trần Thị V - Nguyễn Thị T"
  • Căn cứ chính? Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 218 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 219 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 8 - NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 176/2026/QĐST-DSNghệ An, ngày 10 tháng 09 năm 2026

QUYẾT ĐỊNH

ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ

Căn cứ vào các Điều 48, 217, 218, 219 và khoản 2 Điều 273 Bộ luật tố tụng Dân sự; Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án dân sự sơ thẩm; Xét thấy: Nguyên đơn có đơn xin rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 217 - Bộ luật tố tụng dân sự.

QUYẾT ĐỊNH

--------------

1. Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số: 65/2025/TLST - DS ngày 04 tháng 11 năm 2025, về việc “Tranh chấp di sản thừa kế” giữa:

- Nguyên đơn: Bà Trần Thị V – Sinh năm 1966. Địa chỉ: khối N, phường C, tỉnh Nghệ An. Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn: Bà Trần Thị Hải L – sinh năm 1995, Địa chỉ: khối N, phường C, tỉnh Nghệ An.

- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị T – Sinh năm 1964. Địa chỉ: xóm T, xã N, tỉnh Nghệ An.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Trần Đình N – sinh năm 1989. Bà Trần Thị Q – sinh năm 1991. Địa chỉ: xóm T, xã N, tỉnh Nghệ An. Ông Trần Trung H – sinh năm 1984. Địa chỉ: xóm T, xã N, tỉnh Nghệ An. Ông Trần Quang T1 – sinh năm 1982. Địa chỉ: Tổ dân phố T, phường Đ, Hà Nội. 2. Đương sự có quyền khởi kiện lại vụ án theo quy định của pháp luật. Về tiền tạm ứng án phí: Trả lại cho bà Trần Thị V số tiền 6.250.000 đồng (Sáu triệu, hai trăm năm mươi nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí mà bà đã nộp theo biên lai thu tiền số 0002244 ngày 04 tháng 11 năm 2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An. 3. Đương sự có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Nghệ An có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Cỡ chữ