- Tranh chấp gì? "Triệu Văn Dương"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với:
- Căn cứ chính? Nghị quyết số 04/2015/NQ-HĐTP Hướng dẫn thi hành một số quy…; Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 3 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 Trình tự, thủ tục xem xét, quy…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TP T TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 176/2024/QĐ-TA | TP. T, ngày 24 tháng 9 năm 2024 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ T, TỈNH THÁI NGUYÊN
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
- Thẩm phán – Chủ trì phiên họp: Ông Sái Đức Trung.
- Thư ký phiên họp: Ông Đinh Ngọc Minh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Thái Nguyên.
Ngày 24 tháng 9 năm 2024, tại Cơ sở cai nghiện đa chức năng tỉnh Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quyết định mở phiên họp số: 165/2024/QĐ-TA ngày 18 tháng 9 năm 2024, đối với người bị đề nghị:
Họ và tên: Triệu Văn D, sinh năm 1992.
Nơi ĐKHKTT: Thôn N, xã Đ, huyện C, tỉnh Bắc Kạn.
Giới tính: Nam; Trình độ văn hóa: 12/12; Nghề nghiệp: Làm ruộng.
Chỗ ở: Không có nơi cư trú ổn định.
Hiện đang tạm trú tại: Cơ sở cai nghiện đa chức năng tỉnh Thái Nguyên.
Tiền án: Năm 2023 bị Toà án nhân dân huyện C, tỉnh Bắc Kạn. Xử phạt 14 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Tiền sự: Không.
Bố đẻ: Triệu Văn T và mẹ đẻ: Nguyễn Thị T
(Có mặt)
Có sự tham gia của:
- Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Nguyễn Ngọc Tân - chức vụ: Phó Trưởng Phòng Lao động -TBXH thành phố T, tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố T: Bà Nguyễn Thị Thu Nhung - chức vụ: Kiểm sát viên.
NHẬN THẤY:
Theo hồ sơ đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thể hiện, anh Triệu Văn D là người nghiện ma túy từ năm 2021, loại ma tuý sử dụng là Heroine, hình thức sử dụng “chích”, một tuần dùng 3-4 lần.
- Tại bản tường trình về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy ngày 24/8/2024, anh D thừa nhận là người nghiện ma túy Heroine từ năm 2021, hình thức sử dụng là “chích”, mỗi tuần sử dụng ma túy 3-4 lần. Lần sử dụng gần đây nhất là ngày 22/8/2024, anh D mua một gói ma túy của người thanh niên lạ mặt ở khu vực bờ hồ G, TP. T, tỉnh Thái Nguyên với giá 100.000đồng sau đó mang về sử dụng hết số ma tuý đã mua.
- Tại biên bản kiểm tra chất ma tuý đối với anh Triệu Văn D của Trạm Y tế xã T ngày 24/8/2024. Kết quả: Anh D “Dương tính với ma túy Heroine”.
- Ngày 05/9/2024, Công an xã T đã lập biên bản làm việc về nội dung lựa chọn hình thức cai nghiện, việc lập hồ sơ áp dụng theo Nghị định 116/2021/NĐ-CP áp dụng đối với người không có nơi cư trú ổn định đối với anh D, anh D không có ý kiến gì về kết quả xác định “nghiện ma túy”, anh Dg không đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện. Anh D đề nghị được đi cai nghiện bắt buộc để có thời gian lao động học tập, sớm từ bỏ được ma tuý.
- Tại biên bản ghi lời khai ngày 24/8/2024, anh D trình bày, sau khi ra tù đã bỏ đi khỏi địa phương và đi lang thang khắp nơi, nay đây mai đó và không có chỗ ở ổn định một thời gian dài.
- Ngày 29/8/2024, Chủ tịch UBND xã Thịnh Đức đã ra quyết định số 183/QĐ – UBND-QLNN về việc quản lý người nghiện ma túy trong thời gian làm thủ tục đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
- Ngày 05/9/2024, Công an xã T lập biên bản vi phạm về cai nghiện ma túy tự nguyện, quản lý sau cai nghiện ma túy và điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế đối với anh Triệu Văn D đã có hành vi vi phạm: Người nghiện ma túy không đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện theo quy định tại khoản 1 Điều 32 Luật phòng, chống ma túy năm 2021.
- Ngày 13/9/2024, UBND xã T có văn bản số 167/UBND-CA về đề nghị xem xét hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
- Tại văn bản đề nghị số 597/ĐN- CNBB, ngày 13/9/2024 của Phòng Lao động Thương binh và xã hội thành phố T đề nghị xem xét áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Triệu Văn D.
Tại phiên họp:
- Đại diện phòng Lao động-TBXH thành phố T đề nghị Tòa án xem xét áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện đa chức năng tỉnh Thái Nguyên đối với anh Triệu Văn D với thời gian từ 16 đến 19 tháng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố T phát biểu quan điểm:
Việc tuân theo pháp luật của Tòa án: Qua kiểm sát việc giải quyết vụ việc từ khi thụ lý đến thời điểm này thấy rằng Tòa án đã thực hiện đúng quy định tại về thời hạn được quy định tại Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 như: Thời hạn ra Thông báo thụ lý vụ việc, ra Quyết định mở phiên họp. Thành phần phiên họp đảm bảo theo quy định tại Điều 18 Pháp lệnh 03/2022/UBTVQH15.
Quan điểm của Kiểm sát viên về việc đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính: Có đủ căn cứ và thủ tục áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Triệu Văn D. Nhất trí quan điểm của đại diện Phòng Lao động-TBXH TP. T đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh D với thời gian từ 15 đến 18 tháng.
- Người bị đề nghị có ý kiến: Việc cơ quan có thẩm quyền lập hồ sơ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa anh vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là hoàn toàn đúng, bản thân anh là người nghiện ma túy. Quá trình lập hồ sơ bản thân anh đã được biết và được đọc hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Anh D xác định việc lập hồ sơ đưa anh đi cơ sở cai nghiện bắt buộc anh nhất trí và không có ý kiến gì,
XÉT THẤY:
Qua xem xét hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Triệu Văn D, thấy rằng:
- Về thẩm quyền: Căn cứ khoản 2 Điều 105 Luật xử lý vi phạm hành chính, Điều 3 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân thì việc đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Dương thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Thái Nguyên.
- Về thời hiệu: Đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố T đối với anh D vẫn trong thời hiệu theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 6 Luật xử lý vi phạm hành chính (được sửa đổi, bổ sung năm 2020).
- Về hồ sơ đề nghị áp dụng: Đã có đầy đủ các tài liệu theo quy định tại Điều 103, khoản 2 Điều 104 Luật xử lý vi phạm hành chính (được sửa đổi, bổ sung năm 2020), khoản 1 Điều 41 Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính Phủ quy định chi tiết một số điều của luật phòng, chống ma túy, luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ và trình bày của cơ quan đề nghị, người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thấy rằng:
- Tại bản tường trình về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy ngày 24/8/2024, anh D thừa nhận là người nghiện ma túy Heroine từ năm 2021, hình thức sử dụng là “chích”, mỗi tuần sử dụng ma túy 3-4 lần. Lần sử dụng gần đây nhất là ngày 22/8/2024, anh D mua một gói ma túy của người thanh niên lạ mặt ở khu vực bờ hồ Gia Sàng, TP. T, tỉnh Thái Nguyên với giá 100.000đồng sau đó mang về sử dụng hết số ma tuý đã mua
- Tại biên bản kiểm tra chất ma tuý của Trạm Y tế xã T ngày 24/8/2024. Kết quả anh D “Dương tính với ma túy Heroine”; Công an xã T đã lập biên bản làm việc về nội dung lựa chọn hình thức cai nghiện đối với người không có nơi cư trú ổn định, nhưng anh D không đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện, anh đề nghị được đi cai nghiện bắt buộc; Biên bản vi phạm về cai nghiện ma túy tự nguyện, quản lý sau cai nghiện ma túy và điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế;
- Văn bản đề nghị của UBND xã T và Phòng Lao động-TBXH thành phố T về việc đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh D.
Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của anh Triệu Văn D là trái quy định của pháp luật, xâm phạm chế độ quản lý của Nhà nước về ma tuý, làm tệ nạn ma túy diễn biến ngày càng phức tạp, ảnh hưởng xấu đến việc phòng chống tệ nạn xã hội của Nhà nước ta, nên cần thiết áp dụng biện pháp xử lý hành chính đối với anh D.
Xét nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với anh D: Anh D có 01 tiền án về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, là người nghiện ma túy đã “Không đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện” theo quy định của pháp luật. Trong quá trình lập hồ sơ anh D đã tự nguyện khai báo, nhận thức được hành vi vi phạm của mình là vi phạm pháp luật, đây được coi là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 2 Điều 9 của Luật xử lý vi phạm hành chính.
Theo Luật phòng, chống ma túy năm 2021 quy định:
Điều 32. Đối tượng bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
Người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
1. “Không đăng ký, không thực hiện hoặc tự ý chấm dứt cai nghiện ma túy tự nguyện”.
Xét thấy, có đủ căn cứ xác định anh Triệu Văn D là người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên: “ Không đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện”. Do vậy, anh D thuộc trường hợp bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo khoản 1 Điều 32 Luật phòng, chống ma tuý 2021.
Xét đề nghị Phòng Lao động-TBXH thành phố T về việc áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh D là có cơ sở để chấp nhận. Vì, phù hợp với quy định tại:
- Điểm d khoản 2 Điều 6; khoản 2 Điều 9; Điều 95; khoản 1 Điều 96; 103; khoản 2 Điều 104; khoản 2 Điều 105; Điều 110 của Luật xử lý vi phạm hành chính (được sửa đổi, bổ sung năm 2020);
- Khoản 1 Điều 3, Điều 19, 22, 23, 29, 30, và Điều 31 của Pháp lệnh Số: 09/2014/UBTVQH13 ngày 20 tháng 01 năm 2014 quy định về: Trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân;
- Luật phòng, chống ma túy năm 2021; Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính Phủ quy định chi tiết một số điều của luật phòng, chống ma túy, luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai;
- Nghị quyết số: 04/2015/NQ-HĐTP ngày 24/12/2015 của Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với:
Họ và tên Triệu Văn D, sinh năm 1992
Nơi ĐKHKTT: Thôn N, xã Đ, huyện C, tỉnh Bắc Kạn
Chỗ ở hiện nay: Không có nơi cư trú ổn định.
Hiện đang tạm trú tại: Cơ sở cai nghiện đa năng tỉnh Thái Nguyên.
2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 18 (mười tám) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.
3. Người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính có quyền khiếu nại, Cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát có quyền kháng nghị đối với Quyết định này trong thời hạn 05 (năm) ngày làm việc kể từ ngày công bố quyết định của Tòa án.
Thủ tục khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị Quyết định thực hiện theo quy định tại Điều 33 của pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Cơ quan thi hành quyết định này: Phòng Lao động - TBXH thành phố T phối hợp với Công an thành phố T đưa người phải chấp hành Quyết định vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; Cơ sở cai nghiện đa chức năng tỉnh Thái Nguyên tiếp nhận người bị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
| Nơi nhận: -Phòng LĐ -TBXH TP. T; - VKSND TP. T; - Công an TP. T; - UBND xã T; - Người bị áp dụng ; - Cơ sở cai nghiện đa chức năng tỉnh Thái Nguyên - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN Sái Đức Trung |