- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Nguyên đơn: Bà Trần Mỹ L, sinh năm 1972. Địa chỉ: Phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. - Bị đơn: Bà Cao Thị T, sinh năm: 1983. Ông Trần Doã…"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Cao Thị T.
- Căn cứ chính? Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 314 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 6 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP Hướng dẫn một số quy định tại…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 176/2018/QĐ-PT | Đồng Nai, ngày 31 tháng 10 năm 2018. |
QUYẾT ĐỊNH
GIẢI QUYẾT VIỆC KHÁNG CÁO ĐỐI VỚI
QUYẾT ĐỊNH ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
Với Hội đồng phúc thẩm gồm có:
Thẩm Phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Nguyễn Thị Hồng Tuyến
Các thẩm phán:
Ông Phạm Thành Dương
Ông Vũ Hồng Luyến
Tại Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số 74/2018/QĐST-DS ngày 21/5/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa đã căn cứ vào điểm c, h khoản 1 Điều 217 Bộ luật tố tụng dân sự quyết định: Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số 234/2015/TLST-DS ngày 14/5/2018 về việc "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản, Hợp đồng thuê nhà và đòi lại tiền cọc" giữa:
- Nguyên đơn: Bà Trần Mỹ L, sinh năm 1972.
Địa chỉ: Phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
- Bị đơn: Bà Cao Thị T, sinh năm: 1983.
Ông Trần Doãn H, sinh năm 1975 (ông H chết ngày 12/9/2017)
Địa chỉ: Khu phố 1, Phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
Người đại diện theo ủy quyền của bà T, ông H: Ông Lê Xuân H, sinh năm 1973.
Địa chỉ: Khu phố 1, Phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Trần Thanh L, sinh năm 1968.
2. Bà Trần Thị Tuyết M, sinh năm: 1968.
Cùng địa chỉ: Đường L, phường P, quận H, Thành phố Hà Nội.
3. Bà Trần Thị Bích H, sinh năm 1951.
Địa chỉ: Đường P, phường 12, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
Tại đơn kháng cáo ngày 03/6/2018, bà Cao Thị T kháng cáo đề nghị cấp phúc thẩm hủy Quyết định đình chỉ số 74/2018/QĐST-DS ngày 21/5/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tiếp tục giải quyết vụ án.
XÉT THẤY
Căn cứ vào tài liệu chứng cứ thu thập có tại hồ sơ thể hiện: Tại biên bản làm việc ghi ngày 09/4/2017( thực tế phải là ngày 09/4/2018 mới đúng), Tòa án có giải thích cho ông Lê Xuân H là đại diện theo ủy quyền của bà Cao Thị T về việc “ làm thủ tục đưa người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Trần Doãn H. Thời hạn đến hết ngày 01/5/2018. Quyết định đình chỉ vì lý do “ đã hết thời hạn ấn định ( sau ngày 01/5/2018), người đại diện theo ủy quyền của bà T vẫn không làm thủ tục đưa người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông H gửi đến Tòa án”.
Việc giải thích yêu cầu đương sự “làm thủ tục đưa người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng” là không đúng. Đương sự chỉ có nghĩa vụ cung cấp họ tên, địa chỉ của những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông H để Tòa án đưa vào tham gia tố tụng với tư cách người thừa kế quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông H. Trường hợp đương sự không cung cấp được địa chỉ thì có quyền yêu cầu Tòa án xác minh, thu thập (áp dụng tương tự hướng dẫn tại đoạn 2 điểm c, khoản 2, Điều 6 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Tòa án nhân dân tối cao). Trường hợp chưa thu thập được thì Tòa án phải tạm đình chỉ giải quyết vụ án theo quy định tại a, khoản 1 Điều 214 Bộ luật tố tụng dân sự (Theo quy định của Nghị quyết nêu trên: Trường hợp không xác định được địa chỉ thì đình chỉ yêu cầu liên quan đến người không xác định được địa chỉ chứ không phải đình chỉ vụ án). Trong vụ án này, ngoài yêu cầu phản tố của ông H thì bà Cao Thị T cũng là người có yêu cầu phản tố đã được Tòa án thụ lý. Tòa án đình chỉ vụ án là không đúng quy định của pháp luật.
Ngoài ra, khi tống đạt Quyết định đình chỉ, nguyên đơn bà Trần Mỹ L có ý kiến ghi trong biên bản tống đạt ngày 29/5/2018 với nội dung không đồng ý Quyết định đình chỉ nhưng Tòa án không yêu cầu bà L xác định nội dung kháng cáo hay không là chưa đầy đủ theo quy định tại Điều 274 Bộ luật tố tụng dân sự.
Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai đề nghị Hội đồng họp xét chấp nhận kháng cáo của bị đơn, hủy một phần Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số 74/2018/QĐST-DS ngày 21/5/2018 của TAND thành phố Biên Hòa, chuyển hồ sơ về cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo thủ tục chung.
Vì những lẽ trên;
Căn cứ điểm c khoản 5 Điều 314 của Bộ luật tố tụng dân sự.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Cao Thị T.
Hủy một phần Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số 74/2018/QĐST-DS ngày 21/5/2018 của TAND thành phố Biên Hòa đối với yêu cầu phản tố đòi tiền cọc của bị đơn. Chuyển hồ sơ vụ án tranh chấp cho Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa tiếp tục giải quyết.
2. Về án phí: Bà Cao Thị T không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Hoàn trả bà T số tiền tạm ứng án phí kháng cáo đã nộp 300.000đồng theo biên lai thu số 007847 ngày 25/6/2018 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa.
5. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định.
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN –CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thành Dương Vũ Hồng Luyến
Nguyễn Thị Hồng Tuyến