- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa: Bà Lê Thị D và ông Đỗ Trọng Quốc T. 2.
- Căn cứ chính? Điều 212 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 213 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN S THÀNH PHỐ Đ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 172/2018/QĐST-HNGĐ | S, ngày 19 tháng 9 năm 2018 |
QUYẾT ĐỊNH
CÔNG NHẬN THUẬN TÌNH LY HÔN
VÀ SỰ THỎA THUẬN CỦA CÁC ĐƢƠNG SỰ
Căn cứ hồ sơ vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 136/2018/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 7 năm 2018 giữa:
- Nguyên đơn: bà Lê Thị D - sinh năm: 1995; Địa chỉ: K407/10 đường Núi Thành, quận Hải Châu, thành phố Đ.
- Bị đơn: ông Đỗ Trọng Quốc T- sinh năm: 1994; địa chỉ: Số 68 đường An Trung 1, phường A, quận S, thành phố Đ. Căn cứ vào Điều 212 và Điều 213 của Bộ luật tố tụng dân sự; Căn cứ vào Điều 55, Điều 58, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình; Căn cứ vào biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hòa giải thành ngày 11 tháng 9 năm 2018.
XÉT THẤY:
Việc thuận tình ly hôn và thỏa thuận của các đương sự được ghi trong biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hòa giải thành ngày 11 tháng 9 năm 2018 là hoàn toàn tự nguyện và không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội. Đã hết thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hòa giải thành, không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thỏa thuận đó.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa: Bà Lê Thị D và ông Đỗ Trọng Quốc T. 2. Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự cụ thể như sau:
- Về hôn nhân: Bà Lê Thị D và ông Đỗ Trọng Quốc T thuận tình ly hôn (theo Trích lục kết hôn số 292/2018/TLKH-BS tại UBND phường A, quận S, thành phố Đ cấp ngày 21.6.2018).
- Về nuôi con chung: Bà Lê Thị D và ông Đỗ Trọng Quốc T xác định có 01 người con chung, tên là: Đỗ Trọng Quốc B – sinh ngày 26.12.2014. Sau khi ly hôn, ông T và bà D thỏa thuận, thống nhất giao con Đỗ Trọng Quốc B cho bà D được trực tiếp nuôi dưỡng, cho đến khi con chung đủ 18 tuổi và ông Đỗ Trọng Quốc T không phải cấp dưỡng nuôi con. Bên không trực tiếp nuôi con vẫn được thực hiện mọi quyền và nghĩa vụ đối với con chung, không ai được cản trở. Khi cần thiết vì lợi ích của con chung, các bên đều có quyền yêu cầu giải quyết về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung: Bà Lê Thị D và ông Đỗ Trọng Quốc T xác định không có sản chung.
- Về nợ chung: Bà Lê Thị D và ông Đỗ Trọng Quốc T xác định không có nợ chung.
- Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: 150.000đồng bà Lê Thị D và ôngĐỗ Trọng Quốc T phải chịu, bà D tự nguyện chịu nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đồng mà bà Lê Thị D đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự quận S, thành phố Đ theo biên lai số 008823 ngày 04.7.2018. Hoàn trả cho bà Lê Thị D 150.000 đồng theo biên lai số 008823 ngày 04.7.2018. 3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.
| Nơi nhận: - Đương sự; - VKSND q. S, tp Đ; - Chi cục THADS q. S, tp. Đ; - UBND phường A, q. S, Tp. Đ; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN (ĐÃ KY) DƢƠNG THỊ KIM NHUNG |