vanban.org

Quyết định 17/QĐ-TA

TAND Q. Bình Thủy, TP. Cần Thơ Tuyên án 22/06/2020 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với chị Trần Ngọc T.

Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 18(Mười tám) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc. Phòng Lao động Thương binh và Xã hội quận T có quyền kiến nghị, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thủy có quyền khán… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với chị Trần Ngọc T.
  • Căn cứ chính? Nghị định số 136/2016/NĐ-CP Sửa đổi, bổ sung một số điều của…; Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 3 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 Trình tự, thủ tục xem xét, quy…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN BÌNH THỦY
THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 17/QĐ-TABình Thủy, ngày 22 tháng 6 năm 2020

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THỦY, THÀNH PHỐ CẦN THƠ

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có :

- Thẩm phán: Bà Lê Thị Thùy Hương;

- Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Hồng Châu.

Ngày 22 tháng 6 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Bình

Thủy, thành phố Cần Thơ tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số: 250/2020/QĐ-TA ngày 15 tháng 6 năm 2020 đối với:

Họ và tên: Trần Ngọc T; Giới tính: Nữ; Sinh năm 1978; Chứng minh

nhân dân số: 095178000011; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 01/12; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú tại khu vực A, phường B, quận T, thành phố Cần Thơ; Chỗ ở: như trên; Nghề nghiệp: Không. Tiền án: Ngày 11/02/2005 trộm cắp tài sản bị Tòa án nhân dân quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ xử 01 năm 06 tháng tù; ngày 17/5/2007 mua bán trái phép chất ma túy bị Tòa án nhân dân quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ xử 07 năm 06 tháng tù; Ngày 31/7/2017 trộm cắp tài sản bị Tòa án nhân dân quận Cái Răng xử 01 năm tù; Ngày 25/08/2017 Trộm cắp tài sản bị Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều xử 02 năm tù. Tiền sự: Ngày 05/4/2017 trộm cắp tài sản bị Công an quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ phạt 1.500.000 đồng; Ngày 18/5/2017 vận chuyển trái phép chất ma túy bị Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy – Công an thành phố Cần Thơ phạt 1.500.000 đồng. Con của ông Trần Thanh S(Chết) và bà Phạm Thị C(Sống); Có mặt tại phiên họp.

Có sự tham gia của:

1.

Đại diện Cơ quan đề nghị(Phòng Lao động Thương binh và Xã

hội quận B, thành phố Cần Thơ): Ông Nguyễn Hữu H; Có mặt.

2.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thủy, thành phố

Cần Thơ: Ông Trần Tấn Bửu – Kiểm sát viên; Có mặt.

3.

Đại diện Công an phường B, quận T, thành phố Cần Thơ: Ông

Lê Công T; Có mặt.

NHẬN THẤY:

Chị Trần Ngọc T có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy(loại ma túy

đá) từ năm 2016. Ngày 27/3/2020 chị T bị Công an phường C, quận N, thành phố Cần Thơ phát hiện dương tính với chất ma túy nên đã lập biên bản vi phạm hành chính. Đồng thời chuyển hồ sơ về cho Công an phường B, quận T(Nơi chị Tố cư trú). Ngày 09/4/2020 Công an phường B, quận T có văn bản đề nghị Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường B, quận T, thành phố Cần Thơ ra Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn đối với chị T theo Nghị định 111/2013/NĐ-CP ngày 30/9/2013. Việc sử dụng trái phép chất ma túy của chị T góp phần gây mất trật tự tại địa phương nên Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường B, quận T, thành phố Cần Thơ đã ra Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn số: 07/QĐ-UBND ngày 10 tháng 4 năm 2020 đối với chị T, thời hạn áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn là 03 tháng, kể từ ngày 10/4/2020. Tuy nhiên đến ngày 25/5/2020 chị T bị phát hiện dương tính với ma túy theo biên bản xét chất nghiện ma túy ngày 25/5/2020 và kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy của chị T là nghiện ma túy loại Methaphetamine. Cho nên Công an phường B lập biên bản vi phạm hành chính đối với chị T. Tại bản tự khai ngày 25/5/2020 của chị T cũng thừa nhận vẫn còn sử dụng chất ma túy. Do đó Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường B, quận T, thành phố Cần Thơ đã ra Quyết định chấm dứt việc áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn số 15/QĐ-UBND ngày 26/5/2020 đối với chị T. Trên cơ sở các chứng cứ đã thu thập Công an phường B lập hồ sơ đề nghị đưa chị T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Trên cơ sở đề nghị của Công an phường B thì Phòng Lao động Thương binh và Xã hội quận T đề nghị Tòa án nhân dân quận Bình Thủy áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với chị Trần Ngọc T theo công văn số: 219/ĐN-PLĐTBXH ngày 05 tháng 6 năm 2020.

Tại phiên họp:

Đại diện Phòng Lao động Thương binh và Xã hội quận T đề nghị: Thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Phòng Lao động Thương binh và Xã hội được nêu tại Điều 13 của Nghị Định số 221/2013/NĐ-CP của chính phủ ngày 30 tháng 12 năm 2013. Trên cơ sở đã được Trưởng phòng Tư pháp quận Bình Thủy kiểm tra tính pháp lý của hồ sơ. Phòng Lao động Thương binh và Xã hội quận T đề nghị Tòa án nhân dân quận Bình Thủy xem xét áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với chị Trần Ngọc T tại Cơ sở cai nghiện ma túy thành phố Cần Thơ: ấp X, xã H, thị xã N, tỉnh H. Thời gian cai nghiện bắt buộc từ 16 đến 18 tháng.

Đại diện Công an phường B trình bày: Trần Ngọc T là đối tượng sử

dụng ma túy, nằm trong quản lý ma túy của địa phương. Nhân thân của T có nhiều tiền án, tiền án. Tuy nhiên hiện nay T đang nuôi mẹ già bị bệnh, mặc dù gia đình khó khăn nhưng T vẫn sử dụng ma túy. Đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Người bị đề nghị chị Trần Ngọc T trình bày: Chị sử dụng ma túy từ năm 2016, do bạn bè rủ rê nên chị mới sử dụng ma túy. Cách ba đến bảy ngày chị sử dụng một lần. Hiện tại gia đình chị khó khăn, một mình chị đang nuôi mẹ bị bệnh không đi lại được nên đề nghị Hội đồng xem xét.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thủy phát biểu quan điểm:

Về trình tự lập hồ sơ đề nghị: Hồ sơ đề nghị đảm bảo đầy đủ các thủ tục và đã được Trưởng phòng Tư pháp quận Bình Thủy kiểm tra tính pháp lý theo quy định tại Điểm a Khoản 1, Khoản 3 Điều 103 và Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Về đối tượng bị đề nghị áp dụng: Đối tượng bị đề nghị đúng quy định Khoản 1 Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính; Điều 3 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013; Về thời hiệu: Căn cứ Điểm d Khoản 2 Điều 6 Luật xử lý vi phạm hành chính, Điều 4 Nghị định 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 việc đề nghị của Phòng Lao động Thương binh và Xã hội là có cơ sở, còn thời hiệu theo quy định; Về trình tự, thủ tục xem xét quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án: Đảm bảo đúng trình tự, thủ tục theo quy định.

XÉT THẤY:

Về tính hợp pháp của hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành

chính: Tài liệu trong hồ sơ đầy đủ theo quy định tại Khoản 2, Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính.Về Thời hiệu áp dụng biện pháp xử lý hành chính: Vẫn còn thời hiệu theo quy định tại Khoản 2 Điều 6 của Luật Xử lý vi phạm hành chính. Về thẩm quyền, trình tự, thủ lập hồ sơ đúng quy định. Hồ sơ đề nghị đã được Trưởng phòng Tư pháp quận Bình Thủy kiểm tra tính pháp lý, kết luận là hồ sơ phù hợp và đầy đủ theo quy định pháp luật. Do đó hồ sơ đề nghị đảm bảo đầy đủ và hợp pháp.

Về hành vi vi phạm của người bị đề nghị: Chị Trần Ngọc T là người đã

trưởng thành có đầy đủ năng lực trách nhiệm hành chính. Chị T sử dụng ma túy từ năm 2016, đến ngày 27/3/2020 Công an phường C, quận N phát hiện dương tính với ma túy. Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường B, quận T áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn đối với chị T để tạo điều kiện cho chị T tự mình cai nghiện tại cộng đồng. Mặc dù vẫn còn trong thời gia chấp hành nhưng chị T vẫn tiếp tục sử dụng ma túy, bị Công an phường B phát hiện dương tính với ma túy vào ngày 25/5/2020. Cho nên Phòng Lao động Thương binh và Xã hội quận T đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa chị T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là có cơ sở.

Chị T là đối tượng nghiện ma túy. Việc chị T vẫn tái sử dụng ma túy

trong thời gian chấp hành biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn của Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường B, quận T. Điều đó thể hiện ý thức không bỏ được ma túy và bản thân chị T không thể tự cai nghiện được tại cộng đồng. Do đó, cần phải áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa chị T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc một thời gian nhất định để cai nghiện. Đồng thời cũng xem xét tình trạng nghiện, nhân thân của chị T để quyết định thời gian cai nghiện phù hợp.

- Căn cứ vào Điều 95, Điều 96, Khoản 2 Điều 105 của Luật Xử lý vi

phạm hành chính;

- Căn cứ vào Điều 3 Pháp lệnh 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014

về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân;

- Căn cứ vào Nghị định 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 quy định

chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc và Nghị định 136/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với chị Trần Ngọc T.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 18(Mười tám) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.

3. Phòng Lao động Thương binh và Xã hội quận T có quyền kiến nghị, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thủy có quyền kháng nghị, trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định. Chị Trần Ngọc T có quyền khiếu nại trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định này.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định này: Cơ sở cai nghiện ma túy thành phố Cần Thơ: ấp X, xã H, thị xã N, tỉnh H. * Nơi nhận:

Cỡ chữ