vanban.org

Quyết định 17/2023/QĐ-TA

TAND huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai Tuyên án 12/05/2023 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy số 2, tỉnh Lào Cai.

Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 15 (mười lăm) tháng kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc (ngày 17/02/2023). Quyền khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị đối với quyết định. Người bị đề nghị có quyền khiếu nại trong thời … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nông Văn M"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy số 2, tỉnh Lào Cai.
  • Căn cứ chính? Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 20 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 Trình tự, thủ tục xem xét, quy…; Điều 21 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 Trình tự, thủ tục xem xét, quy…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN B
TỈNH LÀO CAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 17 /2023/QĐ-TABát Xát, ngày 12 tháng 05 năm 2023.

QUYẾT ĐỊNH

ÁP DỤNG BIỆN PHÁP XỬ LÝ HÀNH CHÍNH

ĐƯA VÀO CƠ SỞ CAI NGHIỆN BẮT BUỘC

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán chủ trì phiên họp: Bà Đỗ Thị Thanh Hương.

2. Thư ký phiên họp: Bà Phạm Thị Minh Lý - Thư ký toà án.

Ngày 12/05/2023 tại Trụ sở tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Lào Cai tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quyết định mở phiên họp số: 17/QĐ-TA ngày 05/05/2023 đối với:

Họ và tên: Nông Văn M; Tên gọi khác: Không, Giới tính Nam.

Sinh ngày 09/02/1985; Dân tộc: Giáy; Tôn giáo: Không.

Số Căn cước công dân: 010085008524, Ngày cấp: 12/07/2021; Nơi cấp: Cục CSQLHC về TTXH.

Trình độ văn hoá: 9/12, Nghề nghiệp : Không

Nguyên quán: Bản Qua, Bát Xát, tỉnh Lào Cai.

Nơi cư trú: Tổ12, thị trấn X,huyện B,tỉnh Lào Cai.

Chỗ ở: Lang thang không có nơi cư trú ổn định.

Tiền sự: Không;

Tiền án: Có 01 tiền án. Tại bản án số 37/2021/HSST ngày 14/9/2021 của Tòa án nhân dân huyện B xử phạt 01 (một) năm tù về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”, đến ngày 30/5/2022 Nông Văn M chấp hành xong án phạt tù trở về địa phương.

Con ông: Nông Văn Nủ và bà Hồ Thị Mòi.

Người bị đề nghị: Nông Văn M hiện đã được đưa vào cơ sở cai nghiện ma túy số 2, tỉnh Lào Cai (Có đơn xin vắng mặt tại phiên họp).

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Nguyễn Văn Khơi – Phó trưởng phòng Lao động - Thương binh và xã hội huyện B, tỉnh Lào Cai.

2. Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện B: Bà Bùi Thị Yến – Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY

Hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý của Nông Văn M: Hồi 10 giờ 00 phút ngày 17/02/2023 Công an xã Q, huyện B, tỉnh Lào Cai đã lập biên bản về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy đối với Nông Văn M tại bản tường trình Nông Văn M khai nhận đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là loại ma túy Heroine, hình thức sử dụng là chích. Nông Văn M có hộ khẩu thường trú tại: tổ 12, thị trấn X, huyện B,tỉnh Lào Cai nhưng không ở tại nơi đăng ký nhân khẩu thường trú mà thường xuyên vắng mặt tại địa phương, lang thang trên địa bàn huyện B, không có nơi cư trú rõ ràng. Tại phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện chất ma túy ngày 17/02/2023 Nông Văn M dương tính với chất ma túy trong nước tiểu. Ngày 17/02/2023 khi Nông Văn M đang sử dụng trái phép chất ma tuý thì bị Công an xã Q, huyện B phát hiện đưa về Ủy ban nhân dân xã Q, huyện B để làm việc tiến hành lập biên bản và lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy số 2, tỉnh Lào Cai, địa chỉ: thôn Đá Đinh, xã Tả Phời, thành phố Lào Cai. đối với Nông Văn M.

Tại bản tường trình và đơn xin vắng mặt tại phiên họp, người bị đề nghị Nông Văn M đã thừa nhận bản thân nghiện ma túy từ năm 2019. Vào ngày 17/02/2023 khi Nông Văn M đang có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy thì bị Công an xã Q, huyện B, tỉnh Lào Cai phát hiện, bắt quả tang và lập biên bản về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý. Nông Văn M nhất trí với kết quả xét nghiệm chất ma túy đối với mình, không có ý kiến gì về việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Ý kiến của đại diện Cơ quan đề nghị phòng Lao động -Thương binh và xã hội: Đề nghị Toà án nhân dân huyện B áp dụng khoản 1 điều 96 luật xử lý vi phạm hành chính, căn cứ vào Điều 32 Luật phòng chống ma tuý ; Điều 40, 41, 42, 43 nghị định 116/2021/NĐ- CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật phòng chống ma tuý,luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma tuý và quản lý sau cai nghiện ma tuý. Đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 15 tháng tại Cơ sở cai nghiện ma túy số 2, tỉnh Lào Cai địa chỉ: Thôn Đá Đinh, xã Tả Phời, thành phố Lào Cai đối với trường hợp Nông Văn M – sinh ngày 09/02/1985. ĐKNKTT: tổ 12, thị trấn X, huyện B, tỉnh Lào Cai. Chỗ ở: Lang thang không có nơi cư trú ổn định.

Ý kiến của Viện kiểm sát: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B tham gia phiên họp phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong việc xem xét, quyết định xử lý vi phạm hành chính, đối tượng áp dụng, thẩm quyền xem xét lập hồ sơ, việc giải quyết xử lý vi phạm hành chính của thẩm phán đảm bảo đúng trình tự luật định, không vi phạm về thời hạn xét đề nghị. Đề nghị Toà án giải quyết theo hướng chấp nhận đề nghị của Phòng Lao động- Thương binh và xã hội huyện B, tỉnh Lào Cai.

XÉT THẤY

Sau khi xem xét hồ sơ thụ lý số 17/2023/XLHC ngày 04/05/2023 và nghe ý kiến của đại diện cơ quan đề nghị, ý kiến của đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện B về hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nông Văn M, sinh ngày 09/02/1985. Toà án nhân dân huyện B xét thấy:

Về tính hợp pháp của hồ sơ đề nghị: Việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định tại các Điều 95, Điều 96 điều 103 điều 104- Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012, sửa đổi bổ sung năm 2020; Điều 32 Luật phòng chống ma tuý; Điều 40, Điều 41, Điều 42, Điều 43 – Nghị định số 116/2021/NĐ- CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật phòng chống ma tuý, luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma tuý và quản lý sau cai nghiện ma tuý.

Đối với người bị đề nghị Nông Văn M là người có sức khỏe, không chịu khó làm ăn lao vào con đường nghiện chất ma túy ,Nông Văn M có hộ khẩu tại tổ 12 thị trấn X, huyện B nhưng không sinh sống tại địa phương, hiện nay không có nơi cư trú ổn định, sống lang thang trên địa bàn huyện B. Nông Văn M là có được nghe tuyên truyền về việc nghiêm cấm sử dụng các loại chất ma túy nhưng Nông Văn M không chấp hành pháp luật đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý. Đến ngày 17/02/2023 Nông Văn M bị Công an xã Q, huyện B phát hiện khi đang sử dụng trái phép chất ma tuý,Công an xã Q, huyện B đã tiến hành lập biên bản và tạm giữ Nông Văn M về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý.

Vì vậy việc áp dụng biện pháp đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nông Văn M là đúng với quy định tại điều 95, điều 96- Luật xử lý vi phạm hành chính.

Về tình tiết tăng nặng: Nông Văn M không có tình tiết tăng nặng

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình lập hồ sơ Nông Văn M đã tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi với hành vi vi phạm của mình nên cần áp dụng khoản 2 Điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính để giảm nhẹ khi áp dụng.

Về nhân thân: Nông Văn M là người có nhân thân xấu. Tại bản án số 37/2021/HSST ngày 14/9/2021 của Tòa án nhân dân huyện B xử phạt 01 (một) năm tù về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”, đến ngày 30/5/2022 Nông Văn M chấp hành xong án phạt tù trở về địa phương.

Tại phiên họp đại diện Phòng Lao động - Thương binh và xã hội huyện B và ý kiến của đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện B là có căn cứ phù hợp theo quy định tại Điều 95; khoản 1 Điều 96; khoản 2 Điều 105; Điều 107; Điều 110 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012, sửa đổi bổ sung năm 2020 và khoản 1 Điều 3; Điều 21, 31, 32, 33 của Pháp lệnh số: 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 quy định trình tự thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.

Áp dụng khoản 2 Điều 9, khoản 2 Điều 95, khoản 1 Điều 96, điểm b

khoản 1 Điều 103 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012, sửa đổi bổ sung năm 2020.

Áp dụng khoản 2 Điều 20, Điều 21, 23 pháp lệnh số: 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 quy định trình tự thủ tục xem xét quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy số 2, tỉnh Lào Cai. Địa chỉ: Thôn Đá Đinh, xã Tả Phời, thành phố Lào Cai đối với Nông Văn M.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 15 (mười lăm) tháng kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc (ngày 17/02/2023).

3. Quyền khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị đối với quyết định. Người bị đề nghị có quyền khiếu nại trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố quyết định. Phòng Lao động - Thương binh và xã hội huyện B có quyền kiến nghị trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.Viện kiểm sát nhân dân huyện B có quyền kháng nghị trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày Toà án công bố quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc: Công an huyện B, tỉnh Lào Cai, Phòng Lao động

- Thương binh và xã hội huyện B, tỉnh Lào Cai.

Cỡ chữ