- Tranh chấp gì? Y/c thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú và quản lý tài sản của người đó — án dân sự — "Thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú đối với anh Hầu Tắc B"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của ông Phạm Văn N về việc “Yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú” đối với anh Hầu Tắc B.
- Căn cứ chính? Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 37 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 383 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 17/2022/QĐST-VDS Ngày: 23/12/2022 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v: Yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH - TỈNH ĐỒNG NAI
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Nguyễn Thành Hải
Thư ký phiên họp: Ông Nguyễn Công Nam
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh tham gia phiên họp:
Bà Nguyễn Thị Kiều Diễm - Kiểm sát viên
Ngày 23 tháng 12 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh tiến hành mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 192/2022/TLST-VDS ngày 08/11/2022. Theo quyết định mở phiên họp số: 100/2022/QĐ ngày 08/12/2022.
- Người yêu cầu: Ông Phạm Văn N, sinh năm: 1958
Địa chỉ: 71, khu 1, tổ 2, ấp 3, xã A, huyện L, tỉnh Đồng Nai.
Đại diện theo ủy quyền của người yêu cầu: Ông Trần Lê Quang D, sinh năm: 1994
HKTT: Khu 5A, ấp 7, xã G, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai.
Chỗ ở: 129 D, phường 7, quận G, thành phố Hồ Chí Minh.
- Người bị yêu cầu: Anh Hầu Tắc B, sinh năm: 1980
Địa chỉ cư trú cuối cùng trước khi biệt tích: Tổ 7, ấp 2, xã B, thành phố L, tỉnh Đồng Nai.
(Ông D có mặt; ông N, anh B vắng mặt)
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Người đại diện theo ủy quyền của người yêu cầu – Ông Trần Lê Quang D trình bày:
Ông Phạm Văn N là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án dân sự “Kiện đòi tài sản, yêu cầu tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu” giữa nguyên đơn – bà Nguyễn Thị Mỹ L và bị đơn – ông Vũ Đức N do Tòa án nhân dân huyện L thụ lý số 47/TB-TLVA ngày 21/02/2019.
Trong vụ án, Tòa án huyện L xác định anh Hầu Tắc B là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Tuy nhiên, quá trình giải quyết vụ án, anh B không có mặt, gây khó khăn, chậm trễ cho việc giải quyết vụ án.
Theo biên bản xác minh ngày 07/9/2022 của Tòa án nhân dân huyện L tại Công an xã B thì địa chỉ thường trú của anh Hầu Tắc B tại tổ 7, ấp 2, xã B, thành phố L nhưng anh B đã vắng mặt tại địa phương từ tháng 11/2020 đến nay và đi đâu không rõ. Việc vắng mặt của anh B gây khó khăn, chậm trễ cho việc giải quyết vụ án, ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự.
Nay ông N đề nghị Tòa án thông báo tìm kiếm người vằng mặt tại nơi cư trú đối với anh Hầu Tắc B, sinh năm: 1980. Địa chỉ cư trú cuối củng: tổ 7, ấp 2, xã B, thành phố L.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng và ý kiến về việc giải quyết vụ việc như sau: Thẩm phán trong quá trình giải quyết vụ việc và tại phiên họp đều đã tuân thủ đúng trình tự, thủ tục tố tụng dân sự. Đương sự chấp hành đúng quy định của pháp luật. Tòa án thụ lý giải quyết vụ việc đúng thẩm quyền; thẩm phán đã tiến hành thu thập chứng cứ đầy đủ. Về nội dung: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ việc cho thấy đơn yêu cầu của ông Phạm Văn N về việc yêu cầu Tòa án thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú là có cơ sở để chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự đã được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh nhận định:
Về tố tụng: Ông Phạm Văn N có đơn yêu cầu Tòa án ra quyết định thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú đối với anh Hầu Tắc B, sinh năm: 1980; nơi cư trú cuối cùng: Tổ 7, ấp 2, xã B, thành phố L, tỉnh Đồng Nai. Đây là việc dân sự về “Yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú”, theo quy định tại khoản 2 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, yêu cầu này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố L.
Xét yêu cầu của ông Phạm Văn N về đề nghị thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú đối với anh Hầu Tắc B:
Căn cứ biên bản xác minh ngày 07/9/2022 của Tòa án nhân dân huyện L tại Công an xã B thể hiện:
+ Tại 02 biên bản xác minh ngày 22/4/2022 và 29/4/2022 thể hiện địa chỉ thường trú của anh Hầu Tắc B tại tổ 7, ấp 2, xã B, thành phố L, tỉnh Đồng Nai nhưng đã chuyển khẩu về xã P, huyện C, tỉnh Long An sinh sống từ tháng 11 năm 2020.
+ Ngày 25/4/2022, Tòa án L ra quyết định yêu cầu cung cấp chứng cứ số 358/2022/QĐ-CCTLCC đối với Công an xã P. Theo công văn phúc đáp số 51 ngày 22/6/2022 của Công an xã P cung cấp hiện anh Hầu Tắc B không có đăng ký hộ khẩu thường trú và không sinh sống tại xã P, huyện C, tỉnh Long An.
Ngoài ra, tại thông báo thụ lý số 47/TB-TLVA ngày 21/02/2019 thể hiện anh Hầu Tắc B có địa chỉ liên lạc tại: Nhà số 16, đường 5 F, phường B, quận B, tp.HCM. Tuy nhiên, tại biên bản xác minh ngày 24/2/2022, Công an phường B cung cấp anh Hầu Tắc B không có hộ khẩu thường trú và không sinh sống tại Nhà số 16, đường 5 F, phường B, quận B, tp.HCM.
Tại biên bản xác minh của Tòa án thành phố L ngày 22/11/2022, Công an xã B cho biết anh Hầu Tắc B có đăng ký hộ khẩu thường trú tại tổ 7, ấp 2, xã B, thành phố L, tỉnh Đồng Nai; hiện không sinh sống tại địa phương từ tháng 11 măm 2020 đến nay, đi đâu địa phương không rõ.
Như vậy, đủ cơ sở xác định nơi cư trú cuối cùng của anh B là tại tổ 7, ấp 2, xã B, thành phố L, tỉnh Đồng Nai và tính từ khi anh B biệt tích từ tháng 11 năm 2020 đến nay đã hơn 06 tháng mà không có tin tức gì. Do vậy, có căn cứ để chấp nhận yêu cầu của ông Phạm Văn N về việc yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú đối với anh Hầu Tắc B.
Về lệ phí: ông Phạm Văn N phải chịu lệ phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ Điều 64 Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 27, điểm b khoản 2 Điều 39, Điều 383, Điều 384, Điều 385 và Điều 386 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Căn cứ khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
Chấp nhận yêu cầu của ông Phạm Văn N về việc “Yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú” đối với anh Hầu Tắc B.
Thông báo tìm kiếm anh Hầu Tắc B vắng mặt tại nơi cư trú được đăng trên báo hàng ngày của Trung ương trong 03 số liên tiếp và phát sóng trên Đài phát thanh hoặc Đài truyền hình của Trung ương 03 lần trong 03 ngày liên tiếp theo quy định pháp luật.
Chi phí cho việc đăng, phát thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú do ông Phạm Văn N chịu.
2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Ông Phạm Văn N phải chịu lệ phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số 0006184 ngày 03/11/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Khánh. Ông N đã nộp đủ lệ phí dân sự sơ thẩm.
3. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu được quyền kháng cáo trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Người bị yêu cầu được quyền kháng cáo trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày quyết định được tống đạt hoặc niêm yết. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND TPLK; - Lưu HS. | Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp Nguyễn Thành Hải |