vanban.org

Quyết định 17/2020/QĐST-DS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích

TAND huyện Quản Bạ, tỉnh Hà Giang Tuyên án 30/09/2020 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của anh Giàng Sào L.

Tuyên bố chị Đặng Thị M, sinh năm 1987; địa chỉ nơi cư trú cuối cùng trước khi biệt tích: Thôn N, xã N, huyện Q, tỉnh Hà Giang mất tích. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Anh Giàng Sào L phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền lệ phí giải quyết việc dân sự được khấu trừ vào số tiền tạm ứng… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Giàng Seo L - Đặng Thị M"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của anh Giàng Sào L.
  • Căn cứ chính? Điều 68 Bộ luật Dân sự; Điều 146 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 17 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN Q
TỈNH HÀ GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 17/2020/QĐST - DSQ, ngày 30 tháng 9 năm 2020

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v yêu cầu tuyên bố một người mất tích

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Q, TỈNH HÀ GIANG

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên họp: Ông Cao Danh Nhân.

Thư ký phiên họp: Ông Vũ Hữu Toàn – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Q, tỉnh Hà Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Q, tỉnh Hà Giang tham gia phiên họp: Ông Hồ Lỷ Xuân – Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 9 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Q, tỉnh Hà Giang mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 06/2020/TLST – DS ngày 25 tháng 5 năm 2020 về việc yêu cầu tuyên bố một người mất tích theo Quyết định mở phiên họp số: 17/2020/QĐST-DS ngày 18 tháng 9 năm 2020.

- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Anh Giàng Sào L, sinh năm 1986; địa chỉ: Thôn N, xã N, huyện Q, tỉnh Hà Giang.

- Người có quyền lợi liên quan (người bị yêu cầu tuyên bố mất tích): Chị Đặng Thị M, sinh năm 1987; địa chỉ cư trú trước khi biệt tích: Thôn N, xã N, huyện Q, tỉnh Hà Giang.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Theo đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự anh Giàng Sào L trình bày: Tôi và chị Đặng Thị M kết hôn từ ngày 23/8/2006, vợ chồng chung sống hạnh phúc với nhau có 01 con chung tên là Giàng Văn S, sinh ngày 25/11/2005. Đến năm 2010 vợ tôi tự ý bỏ nhà đi biệt tích không rõ lý do, đến nay không có tin tức gì, tôi và gia đình đã tìm kiếm nhiều lần ở nhiều nơi nhưng không thấy, không biết hiện giờ chị M ở đâu, còn sống hay đã chết. Vì vậy tôi đề nghị Tòa án nhân dân huyện Q tuyên bố vợ tôi là chị Đặng Thị M mất tích theo quy định của pháp luật.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Q tham gia phiên họp:

Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ việc cho đến khi mở phiên họp và tại phiên họp, Thẩm phán, thư ký đã thực hiện đúng và đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; người yêu cầu và người đại diện hợp pháp của người yêu cầu đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình, hợp tác tốt với Tòa án.

Sau khi thụ lý vụ việc, Tòa án nhân dân huyện Q đã tiến hành đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích, đã hết thời hạn 04 tháng nhưng chị Đặng Thị M vẫn không có mặt tại địa phương và không có tin tức chị đang ở đâu. Viện kiểm sát nhân dân huyện Q đề nghị Tòa án nhân dân huyện Q căn cứ Điều 68 Bộ luật dân sự, Điều 369, Điều 370 và Điều 389 của Bộ luật tố tụng dân sự đề chấp nhận yêu cầu của anh Giàng Sào L, ra quyết định tuyên bố chị Đặng Thị M mất tích. Về lệ phí tòa án, anh Giàng Sào L phải chịu 300.000đ tiền lệ phí giải quyết việc dân sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Q nhận định:

Anh Giàng Sào Lùng, sinh năm 1986 chung sống với chị Đặng Thị M, sinh năm 1987 từ năm 2005 tại thôn N, xã N, huyện Q, tỉnh Hà Giang có đăng ký kết hôn tại UBND xã N ngày 23/8/2006 và có với nhau 01 con chung là Giàng Văn S, sinh ngày 25/11/2005. Đến năm 2010, chị Đặng Thị M bỏ nhà đi biệt tích đến nay không liên lạc được, không có tin tức gì. Gia đình đã đi tìm kiếm chị M nhiều lần ở nhiều nơi nhưng không thấy tin tức gì, tính đến nay chị M đã biệt tích được gần 10 năm. Việc chị Đặng Thị M biệt tích được cơ quan quản lý hộ khẩu Công an và Ủy ban nhân dân xã N, huyện Q, tỉnh Hà Giang xác nhận chị M đã đi khỏi nơi cư trú từ năm 2010 cho đến nay chị M không có mặt tại nơi cư trú và không có tin tức gì về chị M. Vì vậy anh Giàng Sào L yêu cầu Tòa án tuyên bố chị Đặng Thị M mất tích theo quy định của pháp luật.

Sau khi thụ lý việc dân sự theo đơn yêu cầu của anh Giàng Sào L, Tòa án nhân dân huyện Q đã ra quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích đối với chị Đặng Thị M. Thông báo tìm kiếm chị Đặng Thị M đã được Báo Công Lý đăng tin trên 03 số báo liên tiếp số 44, 45, 46 ra các ngày 29/5/2020 và ngày 03, 05/6/2020; Đài tiếng nói Việt Nam đã phát tin nhắn tìm chị Đặng Thị M trong 03 ngày liên tiếp, phát vào 17 giờ 30 phút các ngày 30,31/5/2020 và 01/6/2020. Đến nay đã hết thời hạn thông báo nhưng vẫn không có tin tức xác thực về chị Đặng Thị M còn sống hay đã chết.

Từ những nhận định trên, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, căn cứ khoản 1 Điều 68 của Bộ luật dân sự, có đủ cơ sở để chấp nhận yêu cầu của anh Giàng Sào L.

Về phí nhắn tìm chị Đặng Thị M đăng trên báo Công lý và phát trên đài tiếng nói Việt Nam, anh Giàng Sào L đã chi trả đủ.

Về lệ phí giải quyết việc dân sự:

Căn cứ khoản 2 Điều 146 và khoản 4 Điều 363 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 5 Điều 7, Điều 17 và Điều 36 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, anh Giàng Sào L phải chịu 300.000đ tiền lệ phí giải quyết việc dân sự.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 68 của Bộ luật dân sự; khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39, Điều 369, Điều 370, Điều 371, Điều 372 và Điều 389 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ khoản 2 Điều 146 và khoản 4 Điều 363 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 5 Điều 7, Điều 17 và Điều 36 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu của anh Giàng Sào L.

Tuyên bố chị Đặng Thị M, sinh năm 1987; địa chỉ nơi cư trú cuối cùng trước khi biệt tích: Thôn N, xã N, huyện Q, tỉnh Hà Giang mất tích.

- Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Anh Giàng Sào L phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền lệ phí giải quyết việc dân sự được khấu trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Q theo biên lai số BB/2013/05168 ngày 25/5/2020. Xác nhận anh L đã nộp đủ.

- Quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 10 ngày; Viện kiểm sát nhân dân cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tòa án ra quyết định.

Cỡ chữ