vanban.org

Quyết định 17/2020/QĐ-TA

TAND huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình Tuyên án 30/03/2020 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện công lập tỉnh Thái B, địa chỉ: xã Đông Lĩnh, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái B đối với:

Họ và tên: Đỗ Văn B, sinh ngày 29/01/1972; Hộ khẩu thường trú: thôn Nha Xuyên, xã Thái Phúc, huyện T T, tỉnh Thái B. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Đỗ Văn B"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện công lập tỉnh Thái B, địa chỉ: xã Đông Lĩnh, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái B đối với:
  • Căn cứ chính? Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 110 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 19 Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THÁI THỤY
TỈNH THÁI B

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 17/2020/QĐ-TAT T, ngày 30 tháng 3 năm 2020.

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính

đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI B

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Ông Nguyễn Thái Hà.

2. Thư ký phiên họp: Ông Phạm Tiến Thành-Thư ký Tòa án

Ngày 30 tháng 3 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện T T, tỉnh Thái B tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 16/QĐ-TA ngày 18/3/2020 đối với:

Họ và tên: Đỗ Văn B, sinh ngày 29/01/1972; Giới tính: nam.

Nguyên quán: xã T Ph, huyện T T, tỉnh Thái Bình;

Hộ khẩu thường trú: thôn N, xã T Ph, huyện T T, tỉnh Thái Bình;

Nghề nghiệp: lao động tự do; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; trình độ văn hóa:7/10; con ông Đỗ Văn Song (đã chết) và bà Ninh Thị Lành; tiền án, tiền sự: không;

Đỗ Văn B vắng mặt tại phiên họp.

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Nguyễn Xuân Trường, chức vụ: Phó Trưởng phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện T T, tỉnh Thái B.

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T T, tỉnh Thái B: Bà Phạm Thị Thanh Hải - Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Hành vi vi phạm của Đỗ Văn B bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc được xác định như sau:

Đỗ Văn B là đối tượng nghiện ma túy từ năm 2015, loại ma túy B sử dụng là hêrôin với hình thức hít. Đã bị Chủ tịch UBND xã Thái Phúc, huyện T T, tỉnh Thái B ra Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn số 45/QĐ-UBND ngày 21/10/2019 với thời hạn 03 tháng, từ ngày 22/10/2019 đến ngày 22/01/2020. Trong thời gian chấp hành quyết định giáo dục tại xã, B vẫn thường xuyên sử dụng ma túy. Ngày 02/02/2020, B bị Công an xã Thái Phúc lập biên bản vi phạm hành chính vì có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy tại nhà. Cùng ngày B được đưa đi xét nghiệm tình trạng nghiện ma túy tại Trạm y tế xã Thái Phúc, huyện T T, tỉnh Thái B. Tại Phiếu trả lời kết quả về việc xác định tình trạng nghiện ma túy ngày 03/02/2020 của Trạm y tế xã Thái Phúc xác định B có nghiện ma túy, loại ma túy sử dụng là Heroin. B thừa nhận kết quả xét nghiệm tình trạng nghiện ma túy đối với B là đúng.

Quá trình xác minh xác định Đỗ Văn B là đối tượng nghiện ma túy, không có việc làm ổn định.

Trưởng Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện T T đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Đỗ Văn B, thời hạn từ 18 tháng đến 24 tháng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T T phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết Thẩm phán đã tuân theo đúng các quy định của Pháp lệnh trình tự, thủ tục, xem xét quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân. Hồ sơ đề nghị được lập đúng quy định tại Điều 103 Luật xử lý vi phạm hành chính. Đề nghị Tòa án chấp nhận đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 76/LĐTBXH ngày 09/3/2020 của Trưởng Phòng lao động, thương binh và xã hội huyện T T với thười hạn từ 15 tháng đến 18 tháng.

XÉT THẤY:

- Về thủ tục tố tụng: Xét thấy, Đỗ Văn B là đối tượng nghiện ma túy, có nơi cư trú ổn định nên Tòa án đã tống đạt Thông báo thụ lý hồ sơ, Quyết định mở phiên họp và Giấy triệu tập đến phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính qua dịch vụ bưu chính bằng thư bảo đảm; tống đạt trực tiếp Thông báo về việc hoãn phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính cho B là hợp lệ. Tuy nhiên, B vắng mặt đến lần thứ hai không có lý do chính đáng. Vì vậy, Tòa án vẫn tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính là đúng với quy định tại khoản 2 Điều 19 Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.

- Về trình tự, thủ tục đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện T T thấy: Việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục và thời gian được quy định tại các Điều 103 và 104 Luật xử lý vi phạm hành chính. Việc thu thập các chứng cứ chứng minh hành vi vi phạm của Đỗ Văn B đảm bảo khách quan, đúng với quy định của pháp luật.

Hành vi vi phạm của Đỗ Văn B được chứng minh bằng các tài liệu, chứng cứ sau:

- Biên bản vi phạm hành chính do Công an xã Thái Phúc lập ngày 02/02/2020;

- Bản tường trình của Đỗ Văn B ngày 02/02/2020;

- Phiếu trả lời kết quả về việc xác định tình trạng nghiện ma túy ngày 03/02/2020 của Trạm y tế xã Thái Phúc xác định: Đỗ Văn B có nghiện ma túy; loại ma túy sử dụng là Heroine.

Từ chứng cứ nêu trên, có đủ cơ sở kết luận: Đỗ Văn B sinh năm 1972; Nơi ĐKHKTT: Thôn Nha Xuyên, xã Thái Phúc, huyện T T, tỉnh Thái B; là đối tượng nghiện ma túy, ngày 02/02/2020 đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy tại nhà. Như vậy, Đỗ Văn B thuộc đối tượng áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc quy định tại Điều 95, 96 Luật xử lý vi phạm hành chính.

Xét tính chất, mức độ hậu quả của hành vi vi phạm của người bị đề nghị thì thấy: Đỗ Văn B mặc dù đã bị UBND xã Thái Phúc áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, nhưng không chịu tu dưỡng bản thân, biết được tác hại của ma túy, biết hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng B vẫn tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy. Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của B không những gây tác hại cho sức khoẻ, làm suy thoái nòi giống, phẩm giá con người, phá hoại hạnh phúc gia đình mà còn là nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội khác, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội. Vì vậy, cần chấp nhận đề nghị của Phòng lao động, thương binh và xã hội huyện T T áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa B vào cơ sở cai nghiện bắt buộc nhằm cải tạo, giáo dục đối với B và phòng ngừa nguy cơ vi phạm pháp luật nói chung.

Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Đỗ Văn B không phải chịu tình tiết tăng nặng nào quy định tại khoản 1 Điều 10 Luật xử lý vi phạm hành chính. Sau khi vi phạm, B đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi vi phạm của mình, thành thật hối lỗi nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính, vì vậy cần xem xét giảm nhẹ một phần thời hạn áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với B để thể hiện tính chất khoan hồng, nhân đạo của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng Điều 95, khoản 1 Điều 96, khoản 2 Điều 105, khoản 2 Điều 9, Điều 110 Luật xử lý vi phạm hành chính; khoản 1 Điều 3, khoản 2 Điều 19, Điều 22, Điều 23, Điều 30, Điều 31 Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện công lập tỉnh Thái B, địa chỉ: xã Đông Lĩnh, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái B đối với:

Họ và tên: Đỗ Văn B, sinh ngày 29/01/1972;

Hộ khẩu thường trú: thôn Nha Xuyên, xã Thái Phúc, huyện T T, tỉnh Thái B.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 18 tháng, kể từ ngày kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

3. Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện T T có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân huyện T T có quyền kháng nghị trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày công bố Quyết định 30/3/2020; Đỗ Văn B có quyền khiếu nại trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được Quyết định này hoặc kể từ ngày Quyết định này được niêm yết hợp lệ.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Công an huyện T T và Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện T T có trách nhiệm thi hành quyết định này/.

Cỡ chữ