- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của ông Bùi Ngọc H:
- Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 17/2019/QĐST-DS | Quận Ngô Quyền, ngày 26 tháng 11 năm 2019 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v tuyên bố một người mất tích
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Nguyễn Minh Thu
Thư ký phiên họp: Ông Dương Minh Nghĩa – Thư ký Toà án, Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Hồng Ly - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 45/2019/TLST-DS ngày 16 tháng 7 năm 2019 về việc yêu cầu tuyên bố một người mất tích theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 691/2019/QĐST-DS ngày 18 tháng 11 năm 2019, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Ông Bùi Ngọc H; nơi cư trú: Đường A, phường B, quận C, thành phố Hải Phòng; có mặt.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Năm 1984, ông Bùi Ngọc H kết hôn với bà Nguyễn Thị P trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán và đã làm thủ tục đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Lạc Viên, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng ngày 09/3/1984. Sau khi kết hôn, hai vợ chồng chung sống tại địa chỉ đường A1, phường B1, quận C1, thành phố Hải Phòng và đã có hai con chung. Đến cuối 1998, cuộc sống chung giữa ông H và bà P nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do hai vợ chồng bất đồng về quan điểm sống, tính cách không phù hợp, do mâu thuẫn trong làm ăn kinh tế nên bà P đã bỏ nhà đi. Ông H và gia đình đã tìm kiếm nhiều nơi nhưng không có tin tức gì của bà P. Đến khoảng tháng 6/2006, ông H đã chuyển về địa chỉ đường A, phường B, quận C, thành phố Hải Phòng ăn ở, sinh hoạt và chuyển hộ khẩu của cả gia đình. Từ khi chuyển về địa chỉ mới, ông H vẫn tìm kiếm bà P nhưng vẫn không có tin tức gì của bà P. Hiện nay, ông H không biết bà P ở đâu, còn sống hay đã chết. Vì vậy, ông Bùi Ngọc H yêu cầu Toà án tuyên bố bà Nguyễn Thị P mất tích.
Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Ông Bùi Ngọc H có đơn xin miễn nộp tiền lệ phí dân sự sơ thẩm.
Tại phiên họp, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng phát biểu quan điểm: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết việc dân sự của Thẩm phán, Thư ký; việc chấp hành pháp luật của người yêu cầu đã đảm bảo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tòa án đã thụ lý việc dân sự theo đúng thẩm quyền quy định tại khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Căn cứ Điều 68 Bộ luật Dân sự, chấp nhận yêu cầu của ông H, tuyên bố bà Nguyễn Thị P mất tích. Căn cứ vào khoản 1 Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự, khoản 2 Điều 12, khoản 1 Điều 37 Nghị quyết 326 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, ông H được miễn số tiền lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng nhận định:
- Về yêu cầu tuyên bố một người mất tích:
Ông Bùi Ngọc H và bà Nguyễn Thị P là vợ chồng từ năm 1984. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống tại địa chỉ đường A1, phường B1, quận C1, thành phố Hải Phòng và đã có hai con chung là Bùi Khánh Đ, sinh ngày 31/10/1984 và Bùi Ngọc C, sinh ngày 05/4/1991. Đến năm 1998, cuộc sống chung giữa ông H và bà P phát sinh mâu thuẫn do hai vợ chồng bất đồng về quan điểm sống, tính cách không phù hợp, mâu thuẫn trong làm ăn kinh tế nên bà P đã bỏ nhà đi. Ông H và gia đình đã tìm kiếm nhiều nơi nhưng không có tin tức gì của bà P. Nơi cư trú cuối cùng của bà Nguyễn Thị P trước khi mất tích là số nhà 12/136 đường Ngô Quyền, phường Máy Chai, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.
Ngày 12 tháng 7 năm 2019, ông Bùi Ngọc H có đơn yêu cầu Toà án tuyên bố mất tích đối với bà Nguyễn Thị P. Ngày 16 tháng 7 năm 2019 Toà án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng đã thụ lý việc dân sự yêu cầu tuyên bố bà Nguyễn Thị P mất tích theo đơn yêu cầu của ông Bùi Ngọc H; đồng thời thông báo nhắn tìm bà P trên Báo Công lý, Đài tiếng nói Việt Nam, Cổng thông tin điện tử của Tòa án nhân dân tối cao và cổng thông tin điện tử của Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng.
Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền đã xác minh tại chính quyền địa phương nơi cư trú cuối cùng của bà P và nơi đăng ký hộ khẩu của bà P xác nhận, bà P vắng mặt tại nơi cư trú cuối cùng, đường A1, phường B1, quận C1, thành phố Hải Phòng từ cuối năm 1998 và bà P không cư trú tại nơi đăng ký hộ khẩu thường trú đường A, phường B, quận C, thành phố Hải Phòng từ năm 2006 đến nay.
Đã hết thời hạn 04 tháng kể từ ngày đăng, phát thông báo nhắn tìm bà P lần đầu tiên, Toà án và gia đình vẫn không nhận được tin tức xác thực về việc bà P còn sống hay đã chết. Vì vậy, cần chấp nhận đơn yêu cầu của ông H về việc yêu cầu tuyên bố bà Nguyễn Thị P mất tích.
Về con chung: Bà Nguyễn Thị P và ông Bùi Ngọc H có hai con chung là Bùi Khánh Đ, sinh ngày 31/10/1984 và Bùi Ngọc C, sinh ngày 05/4/1991. Hiện nay, cả hai con đều đã trưởng thành (trên 18 tuổi).
Về tài sản chung của vợ chồng, ông H không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết.
- Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự:
Ông Bùi Ngọc H là người cao tuổi và có đơn xin miễn nộp tiền lệ phí dân sự sơ thẩm nên ông H được miễn lệ phí dân sự sơ thẩm.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 68 của Bộ luật Dân sự;
Căn cứ khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39, khoản 1 Điều 149, các điều 367, 369, 370, 371, 372, 387, 388, 389 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ khoản 2 Điều 12, khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Chấp nhận yêu cầu của ông Bùi Ngọc H:
Tuyên bố bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1958; nơi cư trú cuối cùng: 12/136 đường Ngô Quyền, phường Máy Chai, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng mất tích.
- Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự:
Ông Bùi Ngọc H được miễn lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự. Trả lại ông H số tiền tạm ứng lệ phí dân sự đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng lệ phí số 5916 ngày 16 tháng 7 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.
- Quyền kháng cáo, kháng nghị:
Ông Bùi Ngọc H được quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày ra quyết định.
Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày ra quyết định.
Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày ra quyết định.
| Nơi nhận: - Người yêu cầu; - VKSND quận Ngô Quyền; - Chi cục THADS quận Ngô Quyền; - UBND phường Máy Chai, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng; - Lưu: Hồ sơ việc dân sự. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Nguyễn Minh Thu |