- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Quyết định giải quyết việc dân sự"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu tuyên bố một người mất tích của bà Lê Thị Th.
- Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐĂK LĂK Số: 17/2019/QĐ-VDS | Buôn Ma Thuột, ngày 09 tháng 4 năm 2019 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
Về việc: Tuyên bố một người mất tích
TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Vũ Văn Tú - Thẩm phán.
Thư ký phiên họp: Bà Lê Nữ Hoàng Yến - Thư ký Tòa án, Tòa án Nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột tham gia phiên họp: Ông Y Lương Byă - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 4 năm 2019, tại trụ sở Tòa án Nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 60/2018/TLST-VDS ngày 23 tháng 10 năm 2018 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích” theo Quyết định mở phiên họp số 17/2019/QĐST-VDS ngày 02/4/2019, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Lê Thị Th - sinh năm 1958.
Trú tại: Tổ dân phố 1, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà Thanh: Ông Lê Công Th – Luật sư thuộc Văn phòng luật sư X T
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Đỗ Mộng L - Sinh năm 1955.
Nơi cư trú cuối cùng: Tổ dân phố 1, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Bà Lê Thị Th và ông Đỗ Mộng L chung sống như vợ chồng từ năm 1977, không đăng ký kết hôn và chung sống tại Tổ dân phố 1, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, ông bà đã có 04 người con chung là Đỗ Thị Bích Ph – sinh năm 1978; Đỗ Thành L – sinh năm 1983; Đỗ Thị Mỹ H – sinh năm 1986; Đỗ Trường G – sinh năm 1992. Đến năm 1996 ông L bỏ nhà ra đi, khi đi ông L không cho biết lý do và không báo với chính quyền địa phương, từ đó đến nay gia đình đã nhiều lần tìm cách liên lạc với ông L nhưng cũng không có tin tức gì.
Ông L bỏ nhà ra đi đã lâu mà không có tin tức gì nên bà Th yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột tuyên bố ông L mất tích.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên hợp, Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột nhận định:
Về thẩm quyền giải quyết việc dân sự: Xét đơn yêu cầu của bà Lê Thị Th, xác định đây là việc dân sự “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích”. Người bị yêu cầu tuyên bố mất tích có nơi cư trú cuối cùng tại phường T, TP Buôn Ma Thuột nên việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột được quy định tại khoản 1 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm a khoản 2 Điều 37 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về yêu cầu của bà Lê Thị Th, xét thấy:
Ông Đỗ Mộng L chung sống như vợ chồng với bà Lê Thị Th từ năm 1977 và đã có với nhau 04 người con. Đến năm 1996 ông L bỏ nhà đi không cho biết lý do và không thông báo gì với chính quyền địa phương cho nên địa phương không biết ông L đi đâu và làm gì. Bà Lê Thị Th cũng đã tìm kiếm, liên lạc với gia đình ông L nhưng không có thông tin gì.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của đương sự.
Ngày 23/11/2018, Toà án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột đã ban hành Thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú số 20/2018/TB-TA để thông báo trên phương tiện thông tin tìm kiếm ông Đỗ Mộng L để có cơ sở giải quyết việc dân sự. Đến nay đã hết thời hạn thông báo tìm kiếm theo quy định của pháp luật nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc ông Đỗ Mộng L còn sống hay đã chết.
Do đó, có cơ sở tuyên bố ông Đỗ Mộng L – sinh năm 1955 mất tích theo quy định tại khoản 1 Điều 68 của Bộ luật dân sự. Tòa án thống nhất với quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, chấp nhận yêu cầu của bà Lê Thị Th.
Về lệ phí: Bà Lê Thị Th phải nộp lệ phí giải quyết việc dân sự theo quy định của pháp luật.
Về chi phí đăng thông báo, nhắn tin tìm kiếm ông Đỗ Mộng L: Bà Lê Thị Th phải nộp 2.425.000 đồng tiền chi phí đăng thông báo, nhắn tin tìm kiếm. Bà Th đã nộp đủ theo các phiếu thu ngày 26/11/2018.
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, Điều 149, Điều 367, Điều 370, Điều 371, Điều 372 và Điều 389 Bộ luật tố tụng dân sự;
- Căn cứ khoản 1 Điều 68 Bộ luật dân sự;
- Căn cứ khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận đơn yêu cầu tuyên bố một người mất tích của bà Lê Thị Th.
Tuyên bố: Ông Đỗ Mộng L, sinh năm 1955 mất tích.
2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự:
Bà Lê Thị Th phải chịu 300.000 đồng tiền lệ phí việc dân sự sơ thẩm, được khấu trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng lệ phí mà bà T đã nộp (do ông Lê Công Thắng nộp thay) theo biên lai số AA/2017/0008316 ngày 19/10/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.
3. Quyết định này có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đắk Lắk; - VKSND tỉnh Đắk Lắk; - VKSND TP.BMT; - Chi cục THADS TPBMT; - UBND Phường T, TP BMT; - Các đương sự; - Lưu HS vụ án. | THẨM PHÁN (Đã ký) Vũ Văn Tú |