- Tranh chấp gì? "Phạm Văn Quỳnh"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với:
- Căn cứ chính? Nghị quyết số 04/2015/NQ-HĐTP Hướng dẫn thi hành một số quy…; Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 3 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 Trình tự, thủ tục xem xét, quy…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ T TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 169/2024/QĐ-TA | TP. T, ngày 24 tháng 9 năm 2024 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ T, TỈNH THÁI NGUYÊN
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
- Thẩm phán – Chủ trì phiên họp: Ông Sái Đức Trung.
- Thư ký phiên họp: Ông Đinh Ngọc Minh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Thái Nguyên.
Ngày 24 tháng 9 năm 2024, tại Cơ sở cai nghiện đa chức năng tỉnh Thái Nguyên tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quyết định mở phiên họp số: 158/2024/QĐST-XLHC ngày 18 tháng 9 năm 2024, đối với người bị đề nghị:
Họ và tên Phạm Văn Q, sinh năm 1985;
Nơi cư trú: Tổ 09, phường Đ, TP. T, tỉnh Thái Nguyên.
Giới tính: Nam; Trình độ học vấn: 09/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do.
Hiện đang tạm trú tại: Cơ sở cai nghiện đa chức năng tỉnh Thái Nguyên.
Tiền án: Năm 2021, bị Tòa án nhân dân thành phố T, xử phạt 21 tháng tù về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy; Tiền sự: Không.
Bố đẻ: Phạm Văn H và mẹ đẻ: Vũ Thị M
(Có mặt)
Có sự tham gia của:
- Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Nguyễn Ngọc Tân, Chức vụ: Phó trưởng Phòng Lao động - TBXH thành phố T, tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố T: Bà Diệp Thị Hương- chức vụ: Kiểm sát viên.
NHẬN THẤY:
Theo hồ sơ đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thể hiện, anh Phạm Văn Q là người nghiện ma túy, loại ma tuý sử dụng là Heroin, hình thức sử dụng “hít”. Thông báo số 244/TB-CSĐTNTN-CTXH ngày 23/8/2023 của Cơ sở điều trị nghiện tự nguyện và công tác xã hội TP. T về việc học viên hoàn thành chương trình điều trị nghiện ma tuý tự nguyện đối với anh Phạm Văn Q; Ngày 09/9/2024, UBND phường Đ ra quyết định quản lý sau cai nghiện ma tuý tại nơi cư trú (thời hạn quản lý từ ngày 09/9/2023 đến 09/9/2024), ngày 06/9/2024 lại tiếp tục sử dụng trái phép chất ma tuý.
- Tại bản tường trình về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy ngày 08/9/2024, anh Phạm Văn Q thừa nhận sử dụng ma tuý heroin, hình thức sử dụng là hít vào mũi, mỗi ngày sử dụng 1 lần. Ngày gần nhất sử dụng vào 12h30 ngày 06/9/2024 khi đi làm thợ xây tại xã M, TP. B, tỉnh Bắc Kạn, anh Q mang theo tiền gặp một người nghiện ma túy và mua 01 gói ma túy với giá 100.000đồng sau đó anh Q đi tìm chỗ sử dụng bằng hình thức hít vào mũi bản thân.
- Tại biên bản xét nghiệm chất ma tuý ngày 08/9/2024 của Trạm y tế phường Đ. Kết quả xét nghiệm nước tiểu của anh Q “Dương tính với ma tuý Heroin/MOP”.
- Tại phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy của Cơ sở cai nghiện đa chức năng tỉnh Thái Nguyên ngày 11/9/2024. Kết quả anh Phạm Văn Q nghiện ma tuý loại “Heroine”.
- Ngày 12/9/2024, UBND phường Đ đã lập biên bản vi phạm về cai nghiện ma túy tự nguyện, quản lý sau cai nghiện ma túy và điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng hình thức thay thế đối với anh Phạm Văn Q, anh Q thừa nhận hành vi vi phạm.
- Tại Thông báo số 09/TB-UBND ngày 12/9/2024 của UBND phường Đ về việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Phạm Văn Q.
- Ngày 17/9/2024, UBND phường Đ có văn bản đề nghị số 09/UBND-CA xem xét hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Phạm Văn Q.
- Tại văn bản đề nghị số 609/ĐN - CNBB, ngày 17/9/2024 của Phòng Lao động-TBXH thành phố T về đề nghị xem xét áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Phạm Văn Q.
Tại phiên họp:
- Đại diện Phòng Lao động-TBXH thành phố T đề nghị Tòa án xem xét áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện đa chức năng tỉnh Thái Nguyên đối với anh Phạm Văn Q với thời gian từ 16 đến 19 tháng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố T phát biểu quan điểm: Việc tuân theo pháp luật của Tòa án: Qua kiểm sát việc giải quyết vụ việc từ khi thụ lý đến thời điểm này thấy rằng Tòa án đã thực hiện đúng quy định tại về thời hạn được quy định tại Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 như: Thời hạn ra Thông báo thụ lý vụ việc, ra Quyết định mở phiên họp. Thành phần phiên họp đảm bảo theo quy định tại Điều 18 Pháp lệnh 03/2022/UBTVQH15.
Quan điểm của Kiểm sát viên về việc đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính: Có đủ căn cứ và thủ tục áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Phạm Văn Q. Nhất trí quan điểm của đại diện Phòng Lao động-TBXH thành phố T đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Q với thời gian từ 21 đến 24 tháng
- Người bị đề nghị có ý kiến: Việc cơ quan có thẩm quyền lập hồ sơ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa anh Q vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là hoàn toàn đúng, bản thân anh là người nghiện ma túy. Quá trình lập hồ sơ bản thân anh đã được biết và được đọc hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Anh Q xác định việc lập hồ sơ đưa anh đi cơ sở cai nghiện bắt buộc anh nhất trí và không có ý kiến gì mà chỉ đề nghị xem xét áp dụng thời gian cai nghiện thấp nhất,
XÉT THẤY:
Qua xem xét hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Phạm Văn Q, thấy rằng:
- Về thẩm quyền: Căn cứ khoản 2 Điều 105 Luật xử lý vi phạm hành chính, Điều 3 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân thì việc đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Phạm Văn Q thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Thái Nguyên.
- Về thời hiệu: Đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính của Phòng Lao động -TBXH thành phố T đối với anh Phạm Văn Q vẫn trong thời hiệu theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 6 Luật xử lý vi phạm hành chính (được sửa đổi, bổ sung năm 2020).
- Về hồ sơ đề nghị áp dụng: Đã có đầy đủ các tài liệu theo quy định tại Điều 103, khoản 2 Điều 104 Luật xử lý vi phạm hành chính (được sửa đổi, bổ sung năm 2020), khoản 1 Điều 41 Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính Phủ quy định chi tiết một số điều của luật phòng, chống ma túy, luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ và trình bày của cơ quan đề nghị, người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thấy rằng:
- Tại bản tường trình về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy ngày 08/9/2024, anh Phạm Văn Q thừa nhận sử dụng ma tuý heroin, hình thức sử dụng là hít vào mũi, mỗi ngày sử dụng 01 lần. Ngày gần nhất sử dụng vào 12h30 ngày 06/9/2024 khi đi làm thợ xây tại xã M, TP. B, tỉnh Bắc Kạn, anh Q mang theo tiền gặp một người nghiện ma túy và mua 01 gói ma túy với giá 100.000đồng sau đó anh Q đi tìm chỗ sử dụng bằng hình thức hít vào mũi bản thân.
- Tại biên bản kiểm tra chất ma tuý của Trạm Y tế phường Đ và phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy Cơ sở cai nghiện đa chức năng tỉnh Thái Nguyên. Xác định anh Q nghiện ma túy; UBND phường Đ đã lập biên bản vi phạm về cai nghiện ma túy tự nguyện và điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế;
- Văn bản đề nghị của UBND phường Đ và Phòng Lao động-TBXH thành phố T về việc đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Q.
Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của anh Phạm Văn Q là trái quy định của pháp luật, xâm phạm chế độ quản lý của Nhà nước về ma tuý, làm tệ nạn ma túy diễn biến ngày càng phức tạp, ảnh hưởng xấu đến việc phòng chống tệ nạn xã hội của Nhà nước ta, nên cần thiết áp dụng biện pháp xử lý hành chính đối với anh Q.
Xét nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với anh Phạm Văn Q: anh Q không phải chịu tình tiết tăng nặng nào theo Điều 10 Luật xử phạt vi phạm hành chính. Trong quá trình lập hồ sơ anh Q tự nguyện viết bản tường trình, tự nguyện khai báo được coi là tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật xử phạt vi phạm hành chính.
Theo Luật phòng, chống ma túy năm 2021 quy định:
Điều 32. Đối tượng bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
“Người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
1 ………………………………
4. Trong thời gian quản lý sau cai nghiện ma túy mà tái nghiện.
Xét thấy, có đủ căn cứ xác định anh Phạm Văn Q là người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên: “Trong thời gian quản lý sau cai nghiện ma túy mà tái nghiện”. Do vậy, anh Q thuộc trường hợp bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo khoản 4 Điều 32 Luật phòng, chống ma tuý 2021.
Xét đề nghị Phòng Lao động -TBXH thành phố T về việc áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Phạm Văn Q là có cơ sở để chấp nhận, phù hợp với quy định tại:
- Điểm d khoản 2 Điều 6; khoản 2 Điều 9, các Điều 95; khoản 1 Điều 96; 103; khoản 2 Điều 104; khoản 2 Điều 105; Điều 110 của Luật xử lý vi phạm hành chính (được sửa đổi, bổ sung năm 2020);
- Khoản 1 Điều 3, khoản 2 Điều 20, 23, 24, 30, 31 và Điều 32 của Pháp lệnh Số: 03/2022/UBTVQH15 ngày 13 tháng 12 năm 2022 quy định về: Trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân;
- Luật phòng, chống ma túy năm 2021; Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính Phủ quy định chi tiết một số điều của luật phòng, chống ma túy, luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai;
- Nghị quyết số: 04/2015/NQ-HĐTP ngày 24/12/2015 của Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với:
Họ và tên Phạm Văn Q, sinh năm 1985;
Nơi cư trú: Tổ 9, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên.
Hiện đang tạm trú tại: Cơ sở cai nghiện đa chức năng tỉnh Thái Nguyên.
2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 20 (hai mươi) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.
3. Người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính có quyền khiếu nại, Cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát có quyền kháng nghị đối với Quyết định này trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày công bố quyết định của Tòa án.
Thủ tục khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị Quyết định thực hiện theo quy định tại Điều 33 của pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Cơ quan thi hành quyết định này: Phòng Lao động -TBXH thành phố T phối hợp với Công an thành phố T đưa người phải chấp hành Quyết định vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; Cơ sở cai nghiện đa chức năng tỉnh Thái Nguyên tiếp nhận người bị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
| Nơi nhận: - Phòng LĐ-TBXH thành phố T; - VKSND thành phố T; - Công an thành phố T; - UBND phường Đ; - Người bị áp dụng ; - Cơ sở cai nghiện đa chức năng tỉnh Thái Nguyên - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN Sái Đức Trung |