vanban.org

Quyết định 165/2020/QĐST-HNGĐ — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND TP. Tân An, tỉnh Long An Tuyên án 30/12/2020 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa: Chị Nguyễn Thị Lưu T và anh Phạm Quốc T.

Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự cụ thể như sau: Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Lưu T và anh Phạm Quốc T tự nguyện thuận tình ly hôn. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Nguyễn Thị Lưu T và anh Phạm Quốc T tự nguyện thuận tình ly hôn."
  • Tòa quyết gì? Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa: Chị Nguyễn Thị Lưu T và anh Phạm Quốc T.
  • Căn cứ chính? Điều 212 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 213 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình
THÀNH PHỐ TÂN AN
TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 165/2020/QĐST- HNGĐTân An, ngày 28 tháng 12 năm 2020

QUYẾT ĐỊNH

CÔNG NHẬN THUẬN TÌNH LY HÔN

VÀ SỰ THỎA THUẬN CỦA CÁC ĐƯƠNG SỰ

Căn cứ hồ sơ vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 297/2020/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 12 năm 2020 về việc “ly hôn” giữa.

Nguyên đơn: chị Nguyễn Thị Lưu T, sinh năm 1993

Địa chỉ: số 51/2 Nguyễn Văn Quá, Phường Khánh Hậu, thành phố Tân An, tỉnh Long An

Bị đơn: anh Phạm Quốc T, sinh năm 1991

Địa chỉ: số 51/2, Nguyễn Văn Q, Phường K, thành phố Tân An, tỉnh

Long An

Căn cứ vào Điều 212 và Điều 213 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Căn cứ vào Điều 55, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình.

Căn cứ vào biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hòa giải thành ngày 17 tháng 12 năm 2020.

XÉT THẤY

Việc thuận tình ly hôn và thỏa thuận của các đương sự được ghi trong biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hòa giải thành ngày 17 tháng 12 năm 2020 là hoàn toàn tự nguyện và không trái pháp luật, không trái đạo đức xã hội.

Đã hết thời hạn bảy ngày, kể từ ngày lập biên bản ghi nhân sự tự nguyện ly hôn và hòa giải thành, không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thỏa thuận đó.

QUYẾT ĐỊNH

1. Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa: Chị Nguyễn Thị Lưu T và anh Phạm Quốc T.

2. Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự cụ thể như sau:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Lưu T và anh Phạm Quốc T tự nguyện thuận tình ly hôn.

Về con chung: chị Nguyễn Thị Lưu T và anh Phạm Quốc T thỏa thuận: Có 02 con chung là Phạm Thị Hạnh Nguyên, sinh ngày 04/5/2012 và Phạm Hoàng Ngọc Ánh, sinh ngày 14/8/2013 khi ly hôn anh Trạng đồng ý giao con chung là cháu Phạm Hoàng Ngọc Ánh cho chị Truyền nuôi dưỡng, anh Trạng không cấp dưỡng nuôi con. Anh Trạng nuôi con Phạm Thị Hạnh Nguyên, sinh ngày 04/5/2012, hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con cho nhau .

Bên không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ đến thăm nom con chung mà không ai được quyền cản trở. Trường hợp bên không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung thì bên trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con theo quy định của pháp luật. Bên trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được quyền cản trở bên không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung.

Khi thấy cần thiết, trên cơ sở lợi ích của con chung thì bên trực tiếp nuôi con, bên không trực tiếp nuôi con, cơ quan, tổ chức và cá nhân có thẩm quyền có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người nuôi con, việc cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị Lưu T và anh Phạm Quốc T xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không đề cập.

Nợ chung: không có

- Về án phí: chị Nguyễn Thị Lưu T đồng ý nộp 150.000 đồng án phí hôn nhân gia đình. Chuyển 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí chị Truyền đã nộp theo biên lai thu số 0005002 ngày 01/12/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tân An, tỉnh Long An thành án phí. Chị Truyền được nhận lại 150.000đ.

3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.

Cỡ chữ