- Tranh chấp gì? "Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc"
- Tòa quyết gì? 11; Điều 12 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc;
- Căn cứ chính? Điều 1 Nghị định số 136/2016/NĐ-CP Sửa đổi, bổ sung một số điều của…; Điều 10 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP Quy định chế độ áp dụng biện phá…; Điều 10 Luật Xử lý vi phạm hành chính
| TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN! QUẬN!THỦ!ĐỨC! THÀNH!PHỐ!HỒ!CHÍ!MINH! ! | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 164/2018/QĐ-TA ! | Quận Thủ Đức, ngày 19 tháng 7 năm 2018 |
QUYẾT!ĐỊNH
Áp!dụng!biện!pháp!xử!lý!hành!chính
đưa!vào!cơ!sở!cai!nghiện!bắt!buộc!
TOÀ!ÁN!NHÂN!DÂN!QUẬN!THỦ!ĐỨC!-!THÀNH!PHỐ!HỒ!CHÍ!MINH
Với!thành!phần!tiến!hành!phiên!họp!gồm!có:
1. Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Hoà
2. Thư ký phiên họp: Bà Trần Thị Loan
Ngày 19 tháng 7 năm 2018, tại Cơ sở xã hội Thanh Thiếu Niên 2, Thành
phố Hồ Chí Minh, Tòa án nhân dân quận Thủ Đức tiến hành phiên họp để giải
quyết hồ sơ thụ lý số 150/2018/TLST-HC ngày 11 tháng 7 năm 2018 về việc
“Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc” theo
Quyết định mở phiên họp số 254/QĐ-TA ngày 13 tháng 7 năm 2018 đối với:
Họ và tên: Lê Hữu T (tên gọi khác: Không); giới tính: Nam;
Sinh ngày 03/02/1996;
Dân tộc: Kinh;
Tôn giáo: Không;
Trình độ văn hóa: 11/12;
Nguyên quán: An Giang;
Hộ khẩu thường trú: Xóm 7, thôn L, thị trấn B, huyện T, tỉnh An Giang.
Chỗ ở hiện nay: Không nơi cư trú ổn định;
Nghề nghiệp: Công nhân may;
Tiền án; tiền sự: 0
Con ông: Lê Văn Hiếu T và bà Trương Thị Thu T;
(Đương sự Lê Hữu T có mặt tại phiên họp).
Có!sự!tham!gia!của:!!
1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Phạm Đức Trung - Phòng Lao Động
Thương Binh và Xã Hội Quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh: chức vụ:
Phó Trưởng Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội quận Thủ Đức (Có mặt).
2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí
Minh: Ông Võ Cao Hùng- Kiểm sát viên (Có mặt).
!
NHẬN!THẤY:!
Theo văn bản số: 717/LĐTB ngày 09 tháng 7 năm 2018 của Phòng Lao
động - Thương binh và Xã hội quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh cùng các tài liệu, chứng cứ khác do cơ quan chức năng thu thập, thể hiện:
Ngày 31/5/2018 Công an phường Linh Tây, quận Thủ Đức, Thành phố
Hồ Chí Minh lập biên bản vi phạm hành chính đối với ông Lê Hữu T về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
Công an phường Linh Tây, quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh đã
đưa ông Lê Hữu T đi xét nghiệm chất ma túy. Tại biên bản xét nghiệm chất ma túy ngày 31/5/2018 của Trạm Y tế phường Linh Tây, quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xác định ông Lê Hữu T dương tính với chất MET. Phiếu trả lời kết quả ngày 05/6/2018 của Cơ sở Xã hội thanh thiếu niên 2 thuộc Sở Lao động Thương binh và Xã hội Thành phố Hồ Chí Minh đã xác định: “ông Lê Hữu T có nghiện ma túy, tên loại ma túy sử dụng là ma túy đá, chất dạng Amphetamine”.
Quá trình tiến hành xác minh tình trạng cư trú, thu thập chứng cứ về độ
tuổi, nhân thân của người nghiện ma túy, xác định ông Lê Hữu T đủ 18 tuổi, không có nơi cư trú ổn định.
Tại bản tường trình trong hồ sơ, biên bản ghi lời khai do Công an phường
Linh Tây, quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh lập và lời trình bày tại phiên họp của ông Lê Hữu T thể hiện: Ông Lê Hữu T xác nhận bắt đầu sử dụng ma tuý từ tháng 02/2018, lần cuối sử dụng ma túy là ngày 31/5/2018.
Do đó, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội quận Thủ Đức, Thành
phố Hồ Chí Minh đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa ông Lê Hữu T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy - Bảo trợ xã hội Phú Văn.
Tại phiên họp, Đại diện Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội quận
Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh giữ ý kiến, đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Lê Hữu T trong thời gian từ 15 đến 18 tháng.
Người bị đề nghị ông Lê Hữu T thừa nhận hành vi vi phạm hành chính là
sử dụng trái phép chất ma túy, đối với đề nghị của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội quận Thủ Đức, ông Lê Hữu T xin được giảm thời gian đưa đi cai nghiện bắt buộc, cam kết sẽ học tập, lao động nghiêm túc và không tái nghiện.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thủ Đức phát biểu ý kiến về việc
tuân theo pháp luật trong việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính: Tòa án, Thẩm phán được phân công giải quyết việc áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Lê Hữu T đã thực hiện đúng về thụ lý vụ án, thông báo thụ lý vụ án, quyết định mở phiên họp và tại phiên họp đã thực hiện đúng trình tự thủ tục quy định tại
Luật xử lý vi phạm hành chính và các văn bản dưới luật quy định. Đương sự
thực hiện đầy đủ quyền lợi, nghĩa vụ của mình.
!
XÉT!THẤY:!
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ việc đã được thẩm tra
tại phiên họp và trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của đại
diện cơ quan đề nghị, Kiểm sát viên, có cơ sở xác định:
Về thẩm quyền xem xét, áp dụng biện pháp xử lý hành chính: Cơ quan đề
nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối
với ông Lê Hữu T là Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội quận Thủ Đức,
Thành phố Hồ Chí Minh, có trụ sở tại quận Thủ Đức nên Tòa án nhân dân quận
Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh có thẩm quyền xem xét yêu cầu trên của
Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội quận Thủ Đức theo quy định tại
khoản 1 Điều 3 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 của Ủy
ban thường vụ Quốc hội quy định trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng
các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.
Về thời hiệu áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc: Căn
cứ vào lời khai của ông Lê Hữu T có trong hồ sơ và tại phiên họp thì ông có
hành vi sử dụng trái phép chất ma túy lần cuối là vào ngày 31/5/2018. Ngày
19/7/2018, Tòa án nhân dân quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tiến hành
mở phiên họp xem xét yêu cầu áp dụng biện pháp xử lý hành chính, đưa vào cơ
sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Lê Hữu T là còn trong thời hiệu được quy
định tại điểm d khoản 2 Điều 6 Luật Xử lý vi phạm hành chính.
Việc xác minh, thu thập tài liệu và lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp
đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Lê Hữu T đã được cơ quan chức
năng thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thời hạn theo quy định tại Điều 103;
Điều 104 Luật xử lý vi phạm hành chính; khoản 2 Điều 3; Điều 4; khoản 1 Điều
8; các Điều 9, 10, 11, 12 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của
Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở
cai nghiện bắt buộc và Điều 1 Nghị định 136/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016 của
Chính Phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 221/2013/NĐ-
CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ.
Lời thừa nhận việc sử dụng trái phép ma túy của ông Lê Hữu T phù hợp
với những tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ như: Biên bản vi phạm hành chính,
bản tường trình, kết quả xét nghiệm ma túy, phiếu trả lời về tình trạng nghiện
ma túy hiện tại, các tài liệu, chứng cứ khác về độ tuổi, tình trạng cư trú của ông
Lê Hữu T. Có đủ cơ sở pháp lý kết luận ông Lê Hữu T là người đủ 18 tuổi, có
năng lực trách nhiệm hành chính, bị nghiện ma túy, đã có hành vi sử dụng trái
phép chất ma túy và không có nơi cư trú ổn định, là đối tượng áp dụng biện
pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, quy định tại khoản 1 Điều 96 Luật xử
lý vi phạm hành chính. Do vậy việc Phòng Lao Động - Thương binh và Xã hội quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Lê Hữu T theo Điều 95 Luật xử lý vi phạm hành chính là có căn cứ pháp luật.
Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của ông Lê Hữu T đã vi phạm trật
tự, an toàn xã hội, nghiện ma túy không những ảnh hưởng tới sức khỏe của bản thân, gây thiệt hại về vật chất, tinh thần, mà còn là nguyên nhân của nhiều tội phạm và tệ nạn xã hội khác. Tuy nhiên, quá trình bị phát hiện, lập hồ sơ xử lý vi phạm hành chính và tại phiên họp hôm nay ông Lê Hữu T đã tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi, tích cực điều trị tại Cơ sở cai nghiện ma túy Thanh Thiếu Niên 2. Tại phiên họp khai nhận bản thân là công nhân may, do nhận thức kém, nên bị bạn làm cùng rủ rê và do tò mò nên đã dùng thử từ tháng 02/2018 đến nay, bản thân đã nhận thức được hành vi sử dụng ma túy của mình là vi phạm pháp luật và cam kết sẽ học tập, lao động nghiêm túc, không tái nghiện. Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính, để giảm một phần thời gian áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Lê Hữu T. Tuy nhiên, cần đưa ông Lê Hữu T đi cai nghiện bắt buộc trong một thời gian thích hợp để được chữa bệnh, lao động, học tập dưới sự quản lý của cơ sở cai nghiện bắt buộc giúp ông Lê Hữu T được tái hòa nhập cộng đồng, trở thành người tốt, có ích cho gia đình và xã hội.
Vì các lẽ trên;
Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 3; điểm d khoản 2 Điều 6; Điều 9; Điều 10;
Điều 95; Điều 96; Điều 103; Điều 104; Điều 105; Điều 106 Luật Xử lý vi phạm hành chính;
Căn cứ khoản 2 Điều 3; Điều 4; khoản 1 Điều 8; Điều 9; Điều 10; Điều
11; Điều 12 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc;
Căn cứ Điều 1 Nghị định 136/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016 về việc sửa
đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc;
Căn cứ khoản 1 Điều 3; Điều 9; Điều 20; Điều 22; Điều 23; Điều 30;
Điều 31; Điều 32 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.
!
QUYẾT!ĐỊNH:!
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
đối với ông Lê Hữu T, tại Cơ sở cai nghiện ma tuý - Bảo trợ xã hội Phú Văn (trực thuộc Sở Lao Động – Thương binh và Xã hội Thành phố Hồ Chí Minh; địa chỉ: Xã Phú Văn, huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước).
2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 13 (mười ba)
tháng, kể từ ngày 31/5/2018.
Trong thời gian cai nghiện, trường hợp có thay đổi cơ sở cai nghiện bắt
buộc, cơ quan có thẩm quyền có trách nhiệm thông báo cho các cá nhân, cơ
quan, tổ chức có liên quan biết.
3. Phòng Lao động Thương binh và Xã hội quận Thủ Đức, Thành phố Hồ
Chí Minh có quyền kiến nghị; Viện kiểm sát nhân dân quận Thủ Đức, Thành
phố Hồ Chí Minh có quyền kháng nghị; ông Lê Hữu T có quyền khiếu nại
quyết định này trong thời hạn 03 (ba) ngày làm việc, kể từ ngày công bố quyết
định.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến
nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Cơ quan thi hành quyết định: Phòng Lao động Thương binh và Xã hội
quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh; Công an quận Thủ Đức, Thành phố
Hồ Chí Minh; Cơ sở cai nghiện ma tuý - Bảo trợ xã hội Phú Văn; Cơ sở xã hội
Thanh Thiếu niên 2 có trách nhiệm thi hành quyết định này.
| Nơi nhận: - Người bị đề nghị; - Cơ sở cai nghiện ma túy - Bảo trợ xã hội Phú Văn; - Cơ sở xã hội Thanh Thiếu niên 2; - Phòng LĐ - TB và XH quận Thủ Đức; - VKSND quận Thủ Đức; - Công an quận Thủ Đức; - Lưu hồ sơ. | THẨM!PHÁN! (ĐÃ KÝ) Nguyễn!Thị!Hòa !!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!! |