vanban.org

Quyết định 162/2024/QĐST-DS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi

TAND Quận 11, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 28/06/2024 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi — án dân sự — "Tuyên bố MNLHVDS"
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 22 Bộ luật Dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Số: 162/2024/QĐST-DS
Quận 11, ngày 28 tháng 6 năm 2024

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Lý Trần Ngọc Phương. Thư ký phiên họp: Bà Lương Diệu Thu – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên họp: Bà Trương Võ Thùy Dung - Kiểm sát viên. Ngày 28 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 130/2024/TLDS-ST ngày 23 tháng 4 năm 2024 về “Yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 17/2024/QĐDS-ST ngày 18 tháng 6 năm 2024, gồm những người tham gia tố tụng sau đây: Người yêu cầu: Bà Trương Thị Hằng N, sinh năm: 1973; địa chỉ: Số Xxx đường M, Phường C, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh. Người bị yêu cầu tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự: 1. Bà Trương Thị H, sinh năm: 1956; địa chỉ: Số Xxx đường M, Phường C, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh. 2. Ông Trương Văn X, sinh năm: 1968; địa chỉ: Số Xxx đường M, Phường C, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh. 3. Bà Trương Thị Ngọc B, sinh năm: 1976; địa chỉ: Số Xxx đường M, Phường C, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: 1. Bà Trương Thị N, sinh năm: 1954; địa chỉ: Số Xxx đường M, Phường C, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh. 2. Ông Trương Văn T, sinh năm: 1959; địa chỉ: Số Xxx đường M, Phường C, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh. 3. Bà Trương Thị L, sinh năm: 1961; địa chỉ: Số Xxx đường M, Phường C, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh. 4. Bà Trương Thị P, sinh năm: 1963; địa chỉ: Số Xxx đường M, Phường C, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh. 5. Bà Trương Thị Hải, sinh năm: 1966; địa chỉ: Số Xxx đường M, Phường C, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh. 6. Ông Trương Văn H, sinh năm: 1970; địa chỉ: Số Xxx đường M, Phường C, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh. 7. Ông Trương Văn C, sinh năm: 1971; địa chỉ: Số Xxx đường M, Phường C, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh. 8. Ông Trương Đình L, sinh năm: 1980; địa chỉ: Số Xxx đường M, Phường C, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh. Người yêu cầu và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có đơn xin vắng mặt.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

1. Bà Trương Thị Hằng N là người yêu cầu, trình bày: Cha mẹ chúng tôi là ông Trương Văn M, sinh năm: 1930, đã chết ngày 17/11/2020 và bà Nhữ Thị N, sinh năm: 1935, đã chết ngày 29/6/2011. Cha mẹ chúng tôi chung sống với nhau có 12 (mười hai) con chung, bao gồm:

- Bà Trương Thị N, sinh năm: 1954;

- Bà Trương Thị H, sinh năm: 1956;

- Ông Trương Văn T, sinh năm: 1959;

- Bà Trương Thị L, sinh năm: 1961;

- Bà Trương Thị P, sinh năm: 1963;

- Bà Trương Thị Hải, sinh năm: 1966;

- Ông Trương Văn X, sinh năm: 1968;

- Ông Trương Văn H; sinh năm: 1970;

- Ông Trương Văn C; sinh năm: 1971;

- Bà Trương Thị Hằng N; sinh năm: 1973;

- Bà Trương Thị Ngọc B; sinh năm: 1976;

- Ông Trương Đình L; sinh năm: 1980; Cùng địa chỉ: Số Xxx đường M, Phường C, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh. Từ lúc mới sinh ra, ông Trương Văn X đã sốt cao, mắc bệnh động kinh. Sau đó, ông Trương Văn X bị bại não. Bà Trương Thị Ngọc B và bà Trương Thị H thì trong quá trình phát triển mới mắc bệnh tâm thần. Năm 2014, ông Trương Văn X được UBND Phường 9, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh cấp Giấy xác nhận khuyết tật. Năm 2013, bà Trương Thị Ngọc B được UBND Phường 9, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh cấp Giấy xác nhận khuyết tật. Năm 2021, bà Trương Thị H được UBND Phường 9, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh cấp Giấy xác nhận khuyết tật. Do mắc bệnh từ nhỏ nên tính đến thời điểm hiện tại các ông bà: Trương Thị H, Trương Văn X, Trương Thị Ngọc B chưa kết hôn, không có vợ hoặc chồng, không có con ruột, con riêng hoặc nhận nuôi con nuôi. Nay bà Trương Thị Hằng N yêu cầu Tòa án nhân dân Quận 11 tuyên bố: 1. Bà Trương Thị H, sinh năm: 1956; 2. Ông Trương Văn X, sinh năm: 1968; 3. Bà Trương Thị Ngọc B, sinh năm: 1976; Cùng địa chỉ: Số Xxx đường M, Phường C, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh mất năng lực hành vi dân sự. Lý do: Bổ túc hồ sơ cử bà Trương Thị Hằng N làm người giám hộ theo quy định để hưởng các chính sách của Nhà nước. 2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Trương Thị N, ông Trương Văn T, bà Trương Thị L, bà Trương Thị P, bà Trương Thị Hải, ông Trương Văn H, ông Trương Văn C và ông Trương Đình L là anh chị em ruột của bà Trương Thị H, ông Trương Văn X và bà Trương Thị Ngọc B xác nhận lời trình bày của bà Trương Thị Hằng N là đúng. Tất cả thành viên trong gia đình đồng ý với yêu cầu của bà Trương Thị Hằng N và thống nhất đề xuất bà Trương Thị Hằng N, sinh năm: 1973; địa chỉ: Số Xxx đường M, Phường C, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh là người giám hộ cho các ông bà: Trương Thị H, Trương Văn X, Trương Thị Ngọc B. 3. Tại phiên họp hôm nay: Người yêu cầu có đơn xin vắng mặt. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có đơn xin vắng mặt. 4. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 phát biểu ý kiến, nội dung như sau: a) Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết việc dân sự và tại phiên họp, Thẩm phán và Hội đồng giải quyết việc dân sự đã tuân thủ các quy định của pháp luật; người yêu cầu chấp hành nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật về tố tụng dân sự. Tuy nhiên, Tòa án chậm ban hành Quyết định phân công Thẩm phán theo quy định tại Điều 363 BLTTDS năm 2015, chậm gửi Thông báo thụ lý cho Viện kiểm sát, cần khắc phục. b) Về nội dung: Đề nghị Tòa án nhân dân quận 11 giải quyết theo hướng chấp nhận đơn yêu cầu của bà Trương Thị Hằng N về việc yêu cầu tuyên bố bà Trương Thị H, ông Trương Văn X và bà Trương Thị Ngọc B mất năng lực hành vi dân sự. Lệ phí: Bà Trương Thị Hằng N chịu lệ phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp, Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh nhận định: [1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Bà Trương Thị Hằng N yêu cầu Tòa án nhân dân Quận 11 tuyên bố bà Trương Thị H, sinh năm: 1956; ông Trương Văn X, sinh năm: 1968 và bà Trương Thị Ngọc B, sinh năm: 1976; cùng địa chỉ: Số Xxx đường M, Phường C, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh mất năng lực hành vi dân sự. Đây là yêu cầu về dân sự, bà Trương Thị H, ông Trương Văn X và bà Trương Thị Ngọc B hiện đang cư trú tại Quận 11 nên vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh theo điểm a khoản 2 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. [2] Về các yêu cầu của các đương sự: [2.1] Xét lời trình bày của bà Trương Thị Hằng N: Cha mẹ là ông Trương Văn M, sinh năm: 1930, chết năm 2020 và bà Nhữ Thị N, sinh năm: 1935, chết năm 2011; chung sống với nhau có 12 (mười hai) con chung, bao gồm: bà Trương Thị N, bà Trương Thị H, ông Trương Văn T, bà Trương Thị L, bà Trương Thị P, bà Trương Thị Hải, ông Trương Văn X, ông Trương Văn H, ông Trương Văn C, bà Trương Thị Hằng N, bà Trương Thị Ngọc B và ông Trương Đình L. Từ lúc mới sinh ra, ông Trương Văn X đã sốt cao, mắc bệnh động kinh. Sau đó, ông Trương Văn X bị bại não. Còn bà Trương Thị Ngọc B và bà Trương Thị H thì trong quá trình phát triển mới mắc bệnh tâm thần. Năm 2014, ông Trương Văn X được UBND Phường 9, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh cấp Giấy xác nhận khuyết tật. Năm 2013, bà Trương Thị Ngọc B được UBND Phường 9, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh cấp Giấy xác nhận khuyết tật. Năm 2021, bà Trương Thị H được UBND Phường 9, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh cấp Giấy xác nhận khuyết tật. Do bà Trương Thị H, ông Trương Văn X và bà Trương Thị Ngọc B bị bệnh từ sớm nên chưa kết hôn, không có vợ hoặc chồng, không có con ruột, con riêng hoặc nhận nuôi con nuôi, không tự chăm sóc bản thân được, cuộc sống hằng ngày phải cần có người khác giúp đỡ và phải điều trị liên tục. Cha mẹ đã chết nên bà Trương Thị Hằng N được sự thống nhất của các anh chị em trong gia đình yêu cầu Tòa án nhân dân Quận 11 tuyên bà Trương Thị H, ông Trương Văn X và bà Trương Thị Ngọc B mất năng lực hành vi dân sự để làm thủ tục giám hộ đối với bà Trương Thị H, ông Trương Văn X và bà Trương Thị Ngọc B. [2.2] Xét lời trình bày của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Trương Thị N, ông Trương Văn T, bà Trương Thị L, bà Trương Thị P, bà Trương Thị Hải, ông Trương Văn H, ông Trương Văn C và ông Trương Đình L là anh chị em ruột của bà Trương Thị H, ông Trương Văn X và bà Trương Thị Ngọc B xác nhận lời trình bày của bà Trương Thị Hằng N là đúng, thống nhất với yêu cầu của bà Trương Thị Hằng N và không có ý kiến nào khác. Như vậy: Việc bà Trương Thị Hằng N yêu cầu tuyên bố bà Trương Thị H, ông Trương Văn X và bà Trương Thị Ngọc B mất năng lực hành vi dân sự đều được sự thống nhất từ các anh chị em trong gia đình. [3] Căn cứ pháp lý để giải quyết yêu cầu: 3.1 Căn cứ Điều 22 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Khi một người do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án ra quyết định tuyên bố người này là người mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần.” 3.2 Căn cứ kết quả cung cấp chứng cứ của Công an Phường 9, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh: “Bà Trương Thị H, sinh năm: 1956; HKTT: Xxx đường M, Phường C, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh; có thực tế cư trú tại địa phương, ... không có chồng con hoặc con nuôi...” “ Ông Trương Văn X, sinh năm: 1968; HKTT: Xxx đường M, Phường C, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh; có thực tế cư trú tại địa phương, ... không có vợ con hoặc con riêng...” “ Bà Trương Thị Ngọc B; sinh năm: 1976; HKTT: Xxx đường M, Phường C, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh; có thực tế cư trú tại địa phương, ... không có chồng con hoặc con riêng...”. 3.3 Căn cứ vào Kết luận giám định pháp y tâm thần số 4326/KLGĐ ngày 05/6/2024 của Trung tâm pháp y tâm thần khu vực Thành phố Hồ Chí Minh, kết quả giám định pháp y tâm thần đối với bà Trương Thị H như sau: “Kết luận: 1.1 Về y học: Đương sự bị Sa sút tâm thần trong bệnh Alzheimer khởi phát sớm (F00.0 – ICD10). 1.2 Về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi: Đương sự mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.” 3.4 Căn cứ vào Kết luận giám định pháp y tâm thần số 4325/KLGĐ ngày 05/6/2024 của Trung tâm pháp y tâm thần khu vực Thành phố Hồ Chí Minh, kết quả giám định pháp y tâm thần đối với ông Trương Văn X như sau: “Kết luận: 1.1 Về y học: Đương sự bị Bại não/ Động kinh/ Chậm phát triển tâm thần mức độ nặng (G80/G40/F72 – ICD10). 1.2 Về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi: Đương sự mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.” 3.5 Căn cứ vào Kết luận giám định pháp y tâm thần số 4324/KLGĐ ngày 05/6/2024 của Trung tâm pháp y tâm thần khu vực Thành phố Hồ Chí Minh, kết quả giám định pháp y tâm thần đối với bà Trương Thị Ngọc B như sau: “Kết luận: 1.1 Về y học: Đương sự bị bệnh Tâm thần phân liệt thể di chứng, tiến triển từng giai đoạn với thiếu sót tăng dần (F20.51 – ICD10). 1.2 Về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi: Đương sự mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.” 3.6 Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11: Chấp nhận yêu cầu về việc tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự đối với bà Trương Thị H, ông Trương Văn X và bà Trương Thị Ngọc B theo đơn yêu cầu của Bà Trương Thị Hằng N. Từ những căn cứ nhận định trên của Tòa án là phù hợp với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11. Xét thấy, bà Trương Thị Hằng N yêu cầu Tòa án nhân dân Quận 11 tuyên bố bà Trương Thị H, ông Trương Văn X và bà Trương Thị Ngọc B mất năng lực hành vi dân sự là có cơ sở, đúng quy định của pháp luật, cần được chấp nhận. [4] Về lệ phí: Bà Trương Thị Hằng N chịu lệ phí theo quy định pháp luật.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 27; Điều 35; Điều 39; Điều 361, Điều 370, Điều 371, Điều 372 và Điều 378 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Căn cứ vào Điều 22 Bộ luật Dân sự năm 2015; Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án. 1. Chấp nhận yêu cầu của bà Trương Thị Hằng N. 1.1. Tuyên bố bà Trương Thị H, sinh năm: 1956; địa chỉ: Số Xxx đường M, Phường C, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh là người mất năng lực hành vi dân sự. 1.2. Tuyên bố ông Trương Văn X, sinh năm: 1968; địa chỉ: Số Xxx đường M, Phường C, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh là người mất năng lực hành vi dân sự. 1.3. Tuyên bố bà Trương Thị Ngọc B; sinh năm: 1976; địa chỉ: Số Xxx đường M, Phường C, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh là người mất năng lực hành vi dân sự. 2. Về lệ phí: Bà Trương Thị Hằng N phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự đối với bà Trương Thị H là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) bà Trương Thị Hằng N đã nộp theo biên lai thu tiền BLTU/23P số 0022936 ngày 19/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Trương Thị Hằng N đã nộp lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm. Bà Trương Thị Hằng N phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự đối với ông Trương Văn X là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) bà Trương Thị Hằng N đã nộp theo biên lai thu tiền BLTU/23P số 0022987 ngày 07/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Trương Thị Hằng N đã nộp lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm. Bà Trương Thị Hằng N phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự đối với bà Trương Thị Ngọc B là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) bà Trương Thị Hằng N đã nộp theo biên lai thu tiền BLTU/23P số 0022988 ngày 07/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Trương Thị Hằng N đã nộp lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm. 3. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được niêm yết. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định./.

Cỡ chữ