- Tranh chấp gì? Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn... — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thùy K - Phạm Ngọc T"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng nghị số 01/QĐKNPT-VKS-DS ngày 27 tháng 11 năm 2017 của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Căn cứ chính? Điều 314 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 218 Bộ luật Tố tụng dân sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Số: 162/2018/QĐ- PT | Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 31 tháng 01 năm 2018. |
QUYẾT ĐỊNH
GIẢI QUYẾT VIỆC KHÁNG NGHỊ ĐỐI VỚI
QUYẾT ĐỊNH ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với Hội đồng phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên họp: Bà Nguyễn Lê Thiên Hương
Các Thẩm phán: 1/ Bà Trần Thị Nhung
2/ Bà Đặng Thị Bích Loan
Thư ký phiên họp: Bà Võ Thị Thoa– Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh: Bà Nguyễn Thị Yến Oanh – Kiểm sát viên tham gia phiên họp.
Tại quyết định đình chỉ giải quyết việc dân sự sơ thẩm số 127/2017/QĐST-HNGĐ ngày 13 tháng 11 năm 2017 của Tòa án nhân dân Quận 2, Thành phố Hồ Chí Minh.
Tòa án nhân dân Quận 2, Thành phố Hồ Chí Minh đã căn cứ vào các Điều 48, 217, 218, 219 khoản 2 Điều 273, Điều 361 của Bộ luật Tố tụng dân sự quyết định đình chỉ giải quyết việc dân sự về việc “Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn” giữa:
Người yêu cầu: Bà Nguyễn Thùy K, sinh năm 1980
Địa chỉ: đường N, phường Đ, Quận P, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người yêu cầu: Ông Phạm Ngọc T, sinh năm 1965
Địa chỉ: đường N, phường Đ, Quận P, Thành phố Hồ Chí Minh.
Tại quyết định kháng nghị số 01/QĐKNPT-VKS-DS ngày 27 tháng 11 năm 2017 của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh kháng nghị quyết định số 127/2017/QĐST-HNGĐ ngày 13 tháng 11 năm 2017 của Tòa án nhân dân Quận 2, Thành phố Hồ Chí Minh với lý do: Tòa án nhân dân Quận 2 đình chỉ giải quyết việc dân sự với lý do người yêu cầu có đơn xin rút lại đơn yêu cầu nhưng lại giải quyết “ Hoàn trả cho bà Nguyễn Thùy K số tiền tạm ứng lệ phí đã nộp là 300.000 đồng” là không có căn cứ, bởi lẽ theo quy định tại khoản 5 Điều 18 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội thì “ Trong trường hợp Tòa án ra quyết định đình chỉ việc xét đơn yêu cầu thì tiền tạm ứng lệ phí Tòa án đã nộp được sung vào công quỹ nhà nước”. Ngoài ra việc Tòa án nhân Quận 2 không áp dụng điểm c khoản 2 Điều 266 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 vào trong các căn cứ pháp luật là có thiếu sót. Do đó, đề nghị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xem xét giải quyết lại theo thủ tục phúc thẩm. Tại phiên họp, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến, xác định: Thẩm phán, Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về nội dung: Đề nghị Hội đồng phúc thẩm chấp nhận kháng nghị số 01/QĐKNPT-VKS-DS ngày 27 tháng 11 năm 2017 của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Căn cứ Điều 314, Điều 361 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 sửa một phần quyết định đình chỉ số 127/2017/QĐST-HNGĐ ngày 13 tháng 11 năm 2017 của Tòa án nhân dân Quận 2, Thành phố Hồ Chí Minh theo hướng sung vào công quỹ nhà nước số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng.
XÉT THẤY:
[1] Về hình thức: Ngày 16/11/2017, Viện kiểm sát nhân dân Quận 2, Thành phố Hồ Chí Minh nhận được quyết định đình chỉ số 127/2017/QĐST-HNGĐ ngày 13 tháng 11 năm 2017 của Tòa án nhân dân Quận 2, Thành phố Hồ Chí Minh. Ngày 27/11/2017, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh ban hành quyết định kháng nghị số 01/QĐKNPT-VKS-DS đối với quyết định đình chỉ nêu trên. Kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã được làm trong thời hạn luật định, đúng với quy định tại Điều 361 và khoản 2 Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. [2] Về nội dung: Xét kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, Hội đồng phúc thẩm nhận thấy:[[ Tại phần 2 quyết định khi giải quyết về hậu quả của việc đình chỉ giải quyết việc dân sự, cấp sơ thẩm tuyên: “ 2. Hậu quả của việc đình chỉ giải quyết vụ án: Đương sự có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết lại vụ án. Hoàn trả bà Nguyễn Thùy K số tiền tạm ứng lệ phí đã nộp là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng lệ phí Tòa án số AE/2014/0008516 ngày 19 tháng 10 năm 2017 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 2’’. Phần này cấp sơ thẩm tuyên là không đúng với quy định pháp luật, bởi lẽ:
Tại khoản 5 Điều 18 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án quy định: ‘‘Trường hợp Tòa án ra quyết định đình chỉ việc xét đơn yêu cầu theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 366, Điều 382, khoản 3 Điều 388, khoản 3 Điều 392 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì tiền tạm ứng lệ phí Tòa án đã nộp được sung vào công quỹ nhà nước’’. Đối chiếu trường hợp này, ông Phạm Ngọc T và bà Nguyễn Thuỳ K rút đơn yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 366 nên số tiền tạm ứng lệ phí Tòa án bà Nguyễn Thùy K đã nộp phải được sung vào công quỹ nhà nước.
Ngày 22/11/2017 Tòa án nhân dân Quận 2, Thành phố Hồ Chí Minh ban hành Quyết định sửa chữa, bổ sung Quyết định số 94/2017/QĐ-SCBSQĐ có nội dung: Sửa chữa, bổ sung dòng thứ 6 từ trên xuống, trang 01 của Quyết định chỉ số 127/2017/QĐST-HNGĐ ngày 13 tháng 11 năm 2017 “…. và Điều 361…” thành “…. và Điều 366…”; từ dòng thứ 15 từ dưới lên, trang 01 của Quyết định “….. Hoàn trả cho bà Nguyễn Thùy K số tiền…” thành “…..Sung công quỹ số tiền tạm ứng lệ phí mà bà Nguyễn Thùy K đã nộp là 300.000 đồng…”. Theo quy định tại Khoản 1 Điều 268 Bộ luật Tố tụng dân sự thì chỉ sửa chữa, bổ sung khi phát hiện lỗi rõ ràng về chính tả, về số liệu do nhầm lẫn hoặc tính toán sai. Như vậy, việc Tòa án nhân dân Quận 2 ra Quyết định sửa chữa bổ sung là chưa phù hợp.
Ngoài ra trong nội dung của Quyết định, Tòa án nhân dân Quận 2, Thành phố Hồ Chí Minh không căn cứ điểm c, khoản 2 Điều 366 Bộ luật Tố tụng dân sự là có thiếu sót nên cần rút kinh nghiệm.
Từ những phân tích trên, Hội đồng phúc thẩm xét thấy yêu cầu kháng nghị số 01/QĐKNPT-VKS-DS ngày 27 tháng 11 năm 2017 của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh là có cơ sở để chấp nhận.
Lệ phí phúc thẩm: Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồ Chí Minh không phải chịu án phí theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 11 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Những phần quyết định khác của Tòa án cấp sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm giữ nguyên.
Căn cứ vào điểm b khoản 5 Điều 314 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Chấp nhận kháng nghị số 01/QĐKNPT-VKS-DS ngày 27 tháng 11 năm 2017 của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Sửa một phần quyết định đình chỉ giải quyết việc dân sự của Tòa án cấp sơ thẩm về hậu quả của việc đình chỉ giải quyết việc dân sự: Số tiền tạm ứng lệ phí 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng bà Nguyễn Thùy K đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng lệ phí Tòa án số AE/2014/0008516 ngày 19 tháng 10 năm 2017 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 2 được sung vào công quỹ nhà nước. Những phần quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm thì có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. 2. Lệ phí phúc thẩm: Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồ Chí Minh không phải chịu lệ phí. 3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân Tối cao; - Tòa án nhân dân Cấp cao tại TPHCM; - Viện kiểm sát Cấp cao tại TPHCM; - Viện kiểm sát nhân dân Tp.HCM; - Tòa án nhân dân Quận 2, TPHCM; - Chi cục Thi hành án dân sự Quận 2, TPHCM; - Các đương sự (để thi hành); - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG PHÚC THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Nguyễn Lê Thiên Hương |