vanban.org

Quyết định 162/2017/QĐST-HNGĐ — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa: Ông Huỳnh Trung H và bà Lê Thị Tuyết L.

Công nhận sự thoả thuận của các đương sự cụ thể như sau: Về quan hệ hôn nhân: Ông Huỳnh Trung H và bà Lê Thị Tuyết L thuận tình ly hôn. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "LY HÔN"
  • Tòa quyết gì? Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa: Ông Huỳnh Trung H và bà Lê Thị Tuyết L.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 212 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 213 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TP P
TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 162/2017/QĐST-HNGĐPhan Thiết, ngày 29 tháng 5 năm 2017

QUYẾT ĐỊNH

CÔNG NHẬN THUẬN TÌNH LY HÔN

VÀ SỰ THOẢ THUẬN CỦA CÁC ĐƯƠNG SỰ

Căn cứ hồ sơ vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 259/2017/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 5 năm 2017 giữa:

Nguyên đơn: Ông Huỳnh Trung H - sinh năm 1962

Hộ khẩu thường trú và trú tại: khu phố A, phường Đ, Tp P, tỉnh Bình Thuận.

Bị đơn: Bà Lê Thị Tuyết L - sinh năm 1964

Hộ khẩu thường trú: khu phố A, phường Đ, Tp P, tỉnh Bình Thuận.

Trú tại: Đường T, Tp P, tỉnh Bình Thuận.

Căn cứ vào Điều 212, Điều 213 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào Điều 55, 57, 58, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Căn cứ vào biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hoà giải thành ngày 19 tháng 5 năm 2017.

XÉT THẤY

Ông Huỳnh Trung H và bà Lê Thị Tuyết L đăng ký kết hôn hợp pháp tại Ủy ban nhân dân phường Đ, Tp P, tỉnh Bình Thuận theo giấy chứng nhận kết hôn số 076 ngày 26/10/2001. Nay ông H, bà L xác định mâu thuẫn đã quá trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên thuận tình ly hôn.

Việc thuận tình ly hôn và thoả thuận của các đương sự được ghi trong biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hoà giải thành ngày 19 tháng 5 năm 2017 là hoàn toàn tự nguyện và không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.

Đã hết thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hoà giải thành, không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thoả thuận đó.

QUYẾT ĐỊNH

1. Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa: Ông Huỳnh Trung H và bà Lê Thị Tuyết L.

2.Công nhận sự thoả thuận của các đương sự cụ thể như sau:

- Về quan hệ hôn nhân: Ông Huỳnh Trung H và bà Lê Thị Tuyết L thuận tình ly hôn.

- Về con chung: Giao cháu Huỳnh Thái H, sinh ngày 09/3/2000 cho bà Lê Thị Tuyết L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Bà Lê Thị Tuyết L chưa yêu cầu ông Huỳnh Trung H cấp dưỡng nuôi con. Đối với cháu Huỳnh Thái Bảo, sinh ngày 13/12/1993 đã trưởng thành và có khả năng lao động.

Ông Huỳnh Trung H và bà Lê Thị Tuyết L có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn. Ông H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

- Về tài sản chung: Ông bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Ông bà khai không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về án phí: Ông Huỳnh Trung H tự nguyện nộp 150.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Ngày 17/5/2017 ông H đã nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai số 0013356 tại Chi cục thi hành án thành phố P, nay chuyển 150.000 đồng thành án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, hoàn lại cho ông H 150.000 đồng.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

3.Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.

Cỡ chữ