- Tranh chấp gì? "Quyết định xử lý hành chính"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Đỗ Đ M .
- Căn cứ chính? Điều 10 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP Quy định chế độ áp dụng biện phá…; Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 107 Luật Xử lý vi phạm hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN B TỈNH X | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số:162/QĐ - TA | Vũng Tàu, ngày 18 tháng 12 năm 2017 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B
Với Thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
1. Thẩm phán: Ông Trịnh Hồng Phúc - Chủ tọa phiên họp
2. Thư ký phiên họp: Bà Phạm Thị Thảo - Thư ký Tòa án
Ngày 18 tháng 12 năm 2017, tại Cơ sở Tư vấn và Điều trị nghiện ma túy tỉnh X, có địa chỉ tại: Ấp N, xã C, huyện T, tỉnh X, Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh X tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số: 165/QĐ-TA ngày 06 tháng 12 năm 2017 đối với:
Họ và tên: Đỗ Đ M; Giới tính: Nam; Sinh năm:1991; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Phật giáo; Trình độ học vấn: 10/12, Nguyên quán: Thành phố Hồ Chí Minh. Hộ khẩu thường trú: 31/7/11 – đường M, Phường Y, thành phố B; Chỗ ở: Không có nơi cư trú ổn định, Nhân thân: không; Con Đỗ Đ V và bà Nguyễn T N P. Đỗ Đ M có mặt tại phiên họp.
Có sự tham gia của:
1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Ngũ Thế Huy - Đại diện phòng Lao động - Thương binh - Xã hội thành phố B (có mặt)
2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B:Bà Nguyễn Thu Hương- Kiểm sát viên (có mặt)
NHẬN THẤY:
Đối tượng Đỗ Đ M bị Phòng Lao động - Thương binh - Xã hội thành phố B đề nghị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với hành vi như sau: Ngày 01 tháng 11 năm 2017, Công an phường A, thành phố B tiến hành kiểm tra và phát hiện đối tượng Đỗ Đ M có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nên Công an phường A, thành phố B đã cho tiến hành xét nghiệm nước tiểu của Đỗ Đ M cho kết quả dương tính với chất ma túy. Tại phiếu trả lời kết quả ngày 01 tháng 11 năm 2017 của Trạm y tế phường A, thành phố B đã kết luận Đỗ Đ M nghiện ma túy nên Công an phường A, thành phố B đã lập hồ sơ đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Đỗ Đ M. Ngày 29-11-2017, Phòng Lao động - Thương binh - Xã hội thành phố B ban hành công văn số 167/LĐ -TB&XH về việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Đỗ Đ M.
Tại phiên họp hôm nay:
Ý kiến của đại diện Phòng Lao động - Thương binh - Xã hội thành phố B: Vào ngày 01-11-2017, Đỗ Đ M đã bị Công an phường A3, thành phố B lập biên bản xử phạt hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, hình thức sử dụng hút ma túy tổng hợp. Đồng thời Đỗ Đ M cũng đã thừa nhận việc sử dụng ma túy của mình . Qua xác minh tình trạng nơi cư trú của cơ quan công an x ác nhận: Đỗ Đ M là đối tượng lang thang không có nơi cư trú ổn định, không nghề nghiệp, đã trên 18 tuổi. Vì vậy đề nghị Tòa án xem xét áp dụng biện pháp đưa đi cai nghiện bắt buộc đối với Đỗ Đ M thời gian 12 tháng.
Ý kiến của người bị đề nghị: Thừa nhận hành vi sử dụng ma túy, hình thức hút ma túy tổng hợp. Tại phiên họp Đỗ Đ M biết hành vi sử dụng ma túy là vi phạm pháp luật nên không có ý kiến gì về việc lập hồ sơ cai nghiện của các cơ quan liên quan chỉ đề nghị được xem xét giảm thời gian áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên họp: Từ khi thụ lý hồ sơ đến khi mở phiên họp, Tòa án đã tuân thủ đúng trình tự thủ tục theo quy định tại Pháp lệnh 09/2014/UBTVQH 13 ngày 20-01-2014.
XÉT THẤY:
Xét về thời hiệu và thẩm quyền thì thấy: Đỗ Đ M có hành vi sử dụng ma túy và bị lập biên bản vào ngày 01-11-2017 và Phòng Lao động - Thương binh - Xã hội thành phố B là cơ quan đề nghị nên căn cứ Điều 105 Luật xử lý vi phạm hành chính và Điều 4 Nghị định 221/2013/NĐ - CP ngày 30-12-2013, thì còn trong thời hiệu áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc và Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh X là cơ quan có thẩm quyền áp dụng biện pháp hành chính đưa đi cai nghiện bắt buộc.
Xét về trình tự thủ tục lập hồ sơ thì thấy: Căn cứ vào các Điều 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14 Nghị định 221/2013/NĐ - CP ngày 30-02-2013 thì việc các cơ quan hữu quan tiến hành lập hồ sơ đưa Đỗ Đ M đưa đi cai nghiện bắt buộc đã thực hiện đầy đủ và đúng trình tự quy định.
Xét đề nghị của Phòng Lao động Thương binh Xã hội thành phố B về việc áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Đỗ Đ M: Qua thẩm tra hồ sơ và lời khai của Đỗ Đ M tại phiên họp xác định được Đỗ Đ M là đối tượng nghiện ma túy trên 18 tuổi, lang thang, không có nơi ở ổn định. Khi sử dụng ma túy thì Đỗ Đ M phải nhận thức được việc sử dụng ma túy của mình sẽ ảnh hưởng tới sức khỏe của chính bản thân cũng như gây mất trật tự an toàn xã hội, ảnh hưởng tới công tác phòng chống ma túy của địa phương. Vì vậy căn cứ Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính và khoản 2 Điều 3 Nghị định 221/2013/NĐ - CP ngày 30-12-2013. Nhận định có đủ cơ sở để áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Đỗ Đ M.
Về tình tiết tăng nặng: Không.
Về các tình tiết giảm nhẹ: Từ khi bị đưa vào Cơ sở Tư vấn và Điều trị nghiện ma túy tỉnh X đến ngày mở phiên họp lần hai Đỗ Đ M đã tự nguyện khai báo và thành khẩn hối lỗi và tuân thủ việc chữa bệnh nên cần xem xét khi áp dụng thời gian cai nghiện bắt buộc.
- Căn cứ các Điều 95, 96, 105, 107, 110 Luật xử lý vi phạm hành chính.
- Căn cứ các Điều 20, 22, 23, 24, 30,31, 32 Pháp lệnh 09/2014/UTVQH 13 ngày 20/01/2014 của Ủy ban thường vụ quốc hội.
Căn cứ các Điều 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14 Nghị định 221/2013/NĐ - CP ngày 30-12-2013 quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Đỗ Đ M .
2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 12 tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để lập hồ sơ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc là ngày 01-11-2017.
3. Người bị đề nghị có quyền khiếu nại, Phòng lao động thương binh xã hội thành phố B có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân thành phố B có quyền kháng nghị, trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày công bố quyết định.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Phòng Lao động - Thương binh - Xã hội thành phố B, Công an thành phố B thi hành quyết định này.
| Nơi nhận: - Phòng LĐ - TB - XH thành phố B; - VKSND thành phố B; - Cơ sở Tư vấn và Điều trị nghiện ma túy tỉnh X; - Công an thành phố BTàu (Để theo dõi); - Người bị đề nghị; - Lưu hồ sơ. | TÒA ÁN NHÂN DÂN TP B Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp Trịnh Hồng Phúc |