- Tranh chấp gì? Yêu cầu liên quan việc trọng tài thương mại Việt Nam giải quyết tranh chấp theo quy định của pháp luật về Trọng tài thương mại — án kinh doanh thương mại — "Yêu cầu hủy phán quyết trọng tài"
- Tòa quyết gì? Không hủy Phán quyết trọng tài vụ tranh chấp số 51/19 HCM ngày 25 tháng 8 năm 2019 của Hội đồng trọng tài thuộc Trung tâm Trọng tài V.
- Căn cứ chính? Điều 422 Bộ luật Dân sự; Điều 69 Luật Trọng tài thương mại; Điều 7 Luật Trọng tài thương mại
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 1610/2019/QĐ-PQTT Ngày: 14/11/2019 |
QUYẾT ĐỊNH
VỀ VIỆC HỦY PHÁN QUYẾT TRỌNG TÀI
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với Hội đồng xét đơn yêu cầu gồm có:
Thẩm phán, Chủ tọa phiên họp: Ông Ngô Thanh Nhàn
Các Thẩm phán:
Bà Trương Thị Thảo
Bà Lưu Thị Đoan Trang
Thư ký phiên họp: Bà Hồ Thị Kim Oanh
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên họp: Ông Trần Anh Tuấn, Kiểm sát viên
Ngày 14 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, đã tiến hành phiên họp giải quyết việc dân sự thụ lý số 161/TLST-KDTM ngày 23 tháng 9 năm 2019 về việc: “Yêu cầu hủy phán quyết trọng tài” theo Quyết định mở phiên họp số 5150/2019/QĐ-MPH ngày 24 tháng 10 năm 2019.
- Người yêu cầu:
1. Công ty TNHH Đầu tư Bất động sản T; Địa chỉ: Đường H, Phường M, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp: Ông Nguyễn Hữu T – là ngưởi đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền số 50/2019/QU ngày 10/9/2019 ( có mặt)
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Ông Trần Đức P – là luật sư của Công ty Luật TNHH H (có mặt)
2. Công ty Cổ phần Xây dựng và Phát triển công nghệ V; Địa chỉ: Tòa nhà N, Khu đô thị T, phường N, quận T, Thành phố Hà Nội; Địa chỉ liên lạc: đường C, Phường M, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp: Ông Nguyễn Hữu T– là ngưởi đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền số 50A/2019/QU-VCT ngày 10/9/2019 ( có mặt)
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Ông Trần Đức P – là luật sư của Công ty Luật TNHH H (có mặt)
3. Ông Đỗ Việt T; Địa chỉ: Khu biệt thự T, Đường Q, phường H, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp: Ông Nguyễn Hữu T – là ngưởi đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 06/9/2019 ( có mặt)
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Ông Trần Đức P – là luật sư của Công ty Luật TNHH H (có mặt)
- Người liên quan:
1. Ông Nguyễn Gia H; (có mặt)
2. Ông Nguyễn Gia N; (vắng mặt)
3. Nguyễn Gia Huy L, sinh năm 2001.
Cùng địa chỉ: chung cư G, Phường B, quận G, TP.HCM.
Căn cứ vào Điều 71 của Luật Trọng tài thương mại;
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ kèm theo gồm: Phán quyết Trọng tài vụ tranh chấp số 51/19 HCM ngày 25/8/2019, Hợp đồng mua bán căn hộ chung cư số 69/HĐMB/2015 ngày 26/11/2015; Hợp đồng thi công hoàn thiện căn hộ số 69A/HĐ/2015 ngày 26/11/2015; Phụ lục hợp đồng (nhà ở xã hội) ngày 04/6/2017.
Sau khi xem xét các đơn đề ngày 10 tháng 9 năm 2019 của Công ty TNHH Đầu tư Bất động sản T (gọi tắt là Công ty T), Công ty Cổ phần Xây dựng và Phát triển công nghệ V (gọi tắt là Công ty phát triển công nghệ V) và của Ông Đỗ Việt T về yêu cầu hủy Phán quyết trọng tài vụ tranh chấp số 51/19 HCM của Hội đồng Trọng tài thuộc Trung tâm Trọng tài V lập ngày 25/8/2019 tại Thành phố Hồ Chí Minh (gọi tắt là phán quyết trọng tài) giải quyết tranh chấp phát sinh từ Hợp đồng mua bán căn hộ chung cư, Hợp đồng thi công hoàn thiện căn hộ và Phụ lục hợp đồng (nhà ở xã hội) giữa Công ty T, Công ty phát triển công nghệ V, Ông Đỗ Việt T với bà Lưu Hồng N (do ông Nguyễn Gia H, ông Nguyễn Gia N, trẻ Nguyễn Gia Huy L là người thừa kế);
NỘI DUNG YÊU CẦU VÀ CĂN CỨ YÊU CẦU HỦY PHÁN QUYẾT
TRỌNG TÀI:
Nội dung tranh chấp: Theo đơn khởi kiện 18/02/2019, đơn khởi kiện bổ sung ngày 26/7/2019, thì ông Nguyễn Gia H, ông Nguyễn Gia N, trẻ Nguyễn Gia Huy L căn cứ các hợp đổng và phụ lục hợp đồng đã ký kết của bà Lưu Hồng N để yêu cầu Công ty T, Công ty phát triển công nghệ V và ông Đỗ Việt T phải bồi thường thiệt hại và chịu phạt vi phạm hợp đồng do đã có vi phạm thỏa thuận trong các hợp đồng đã ký. Cụ thể yêu cầu Công ty T và Công ty phát triển công nghệ V liên đới thanh toán các khoản tiền tổng cộng là 445.552.504 đồng; Đồng thời yêu cầu ông Đỗ Việt T sẽ thực hiện ngay nghĩa vụ trên với tư cách là người bảo lãnh trong trường hợp hai công ty trên không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ thanh toán. Cả 2 công ty này đều do ông Đỗ Việt T là người đại diện theo pháp luật.
Nội dung phán quyết trọng tài: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc Công ty T và Công ty phát triển công nghệ V liên đới thanh toán các khoản tiền tổng cộng là 445.552.504 đồng trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày Phán quyết Trọng tài có hiệu lực. Nếu Công ty T và Công ty phát triển công nghệ V không thanh toán, hoặc thanh toán không đầy đủ thì ông Đỗ Việt T phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh, trả thay. Trường hợp chậm thanh toán, ông Đỗ Việt T còn phải trả thêm tiền lãi theo quy định tại Điều 357 Bộ luật Dân sự 2015 với mức lãi suất là 10%/năm, tương ứng với số tiền chậm trả và thời gian chậm trả. Ngoài ra phán quyết còn tuyên về nghĩa vụ chịu chi phí pháp lý và phí trọng tài của các đương sự.
Nội dung yêu cầu và căn cứ yêu cầu hủy phán quyết trọng tài: Công ty T, Công ty phát triển công nghệ V và ông Đỗ Việt T đều có yêu cầu hủy Phán quyết trọng tài vì các lý do được đánh số từ (1) đến (9) như sau:
(1) Không có thỏa thuận Trọng tài của ông Đỗ Việt T đối với “ Quan hệ bảo lãnh”;
(2) Phán quyết trọng tài xác định sai về “ thỏa thuận trọng tài” tại Phụ lục ngày 04/6/2017 và chữ ký của bà Lưu Hồng N là chữ ký giả;
(3) Phán quyết trọng tài trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam;
(4) Hội đồng trọng tài vi phạm thủ tục tố tụng trọng tài;
(5) Phán quyết trọng tài buộc trả chi phí pháp lý trái với quy định pháp luật Việt Nam;
(6) Không chấm dứt việc thực hiện hợp đồng trái với khoản 3 Điều 422 Bộ luật Dân sự ;
(7) Bà Lưu Hồng N mất ngày 27/5/2017 và chồng con không thuộc đối tượng mua nhà ở xã hội;
(8) Phán quyết trọng tài tính tiền phạt và bồi thường cả thời gian hợp đồng bị chấm dứt;
(9) Phán quyết trọng tài xác định sai về “Quyền tài sản”, sử dụng thuật ngữ” quyền về tài sản phát sinh từ hợp đồng” không có trong Bộ luật Dân sự 2015.
XÉT THẤY:
Sau khi xem xét đơn, các tài liệu kèm theo và nghe ý kiến của những người được triệu tập, ý kiến của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh;
[1] Căn cứ khoản 1 Điều 69 Luật Trọng tài thương mại thì các đơn yêu cầu hủy Phán quyết Trọng tài của Công ty T, của Công ty phát triển công nghệ V và của ông Đỗ Việt T trong thời hạn luật định.
Căn cứ khoản 2 Điều 31; điểm a khoản 3 Điều 38; khoản 3 Điều 414 Bộ Luật tố tụng dân sự và điểm g khoản 2 Điều 7 Luật Trọng tài thương mại thì yêu cầu hủy Phán quyết Trọng tài của Công ty T, của Công ty phát triển công nghệ V và của ông Đỗ Việt T thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Xét thấy Công ty T, Công ty phát triển công nghệ V và ông Đỗ Việt T đều có đơn yêu cầu hủy Phán quyết trọng tài vụ tranh chấp số 51/19 HCM của Hội đồng trọng tài thuộc Trung tâm Trọng tài V. Nên việc nhập các vụ việc đã thụ lý riêng biệt để đảm cho việc giải quyết đúng quy định pháp luật.
Xét các lý do yêu cầu hủy phán quyết (1) và (2) có liên quan đến thỏa thuận trọng tài của ông Đỗ Việt T:
Tại Phán quyết trọng tài vụ tranh chấp số 51/19 HCM ngày 25 tháng 8 năm 2019 của Hội đồng trọng tài thuộc Trung tâm Trọng tài V đã nhận định: Việc thỏa thuận trọng tài giữa các bên được hiểu là có cả ông Đỗ Việt T trong phạm vi thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh của mình. Từ đó Phán quyết đã quyết định: buộc Công ty T và Công ty phát triển công nghệ V liên đới thanh toán các khoản tiền bồi thường thiệt hại và phạt vi phạm tổng cộng là 445.552.504 đồng trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày Phán quyết Trọng tài có hiệu lực. Nếu Công ty T và Công ty phát triển công nghệ V không thanh toán, hoặc thanh toán không đầy đủ thì ông Đỗ Việt T phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh, trả thay số tiền nói trên.
Xét thấy ông Đỗ Việt T trực tiếp ký Phụ lục Hợp đồng ngày 04/6/2017 với tư cách là người đại diện pháp luật của Công ty T và là người đại diện pháp luật của Công ty phát triển công nghệ V, cam kết thực hiện nghĩa vụ với khách hàng, đồng thời ông Đỗ Việt T cũng ký với tư cách cá nhân bảo lãnh cam kết thực hiện nghĩa vụ. Như vậy, cùng một người, cùng một thời điểm, ông Đỗ Việt T ký với tư cách đại diện pháp luật của 2 công ty thỏa thuận giải quyết tranh chấp tại trọng tài thì không thể nói rằng ông Đỗ Việt T không thỏa thuận giải quyết tại trọng tài với tư cách là người bảo lãnh. Hơn nữa, tại Điều 6 Phụ lục hợp đồng có quy định “Bất kể các tranh chấp phát sinh từ thỏa thuận này” trong khi đó tranh chấp về bảo lãnh (được quy định tại Điều 5 Phụ lục hợp đồng) là tranh chấp “phát sinh từ thỏa thuận này” nên nội dung vừa nêu có thể được hiểu bao gồm cả tranh chấp với người bảo lãnh (là ông Đỗ Việt T), do đó Trung tâm Trọng tài V đã giải quyết tranh chấp là đúng thẩm quyền.
Tại phiên họp ông Nguyễn Gia H xác nhận Phụ lục hợp đồng 04/6/2017 người ký tên là ông và ông có ghi rõ là ký thay bà Lưu Hồng N vì ở thời điểm đó ông là người thừa kế của bà N ( do bà N chết ngày 27/5/2017). Như vậy phía người yêu cầu cho rằng chữ ký ở Phụ lục hợp đồng 04/6/2017 là chữ ký giả chữ ký bà N là không đúng mà xác định đây là chữ ký của ông H là người thừa kế của bà N.
Xét lý do (4) yêu cầu hủy phán quyết do Hội đồng trọng tài vi phạm thủ tục tố tụng trọng tài khi giải quyết yêu cầu bổ sung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn tại phiên họp mà không gửi thông báo, đơn khởi kiện bổ sung cùng các tài liệu chứng cứ cho bị đơn theo quy định.
Xét thấy tại đơn khởi kiện bổ sung, nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả thêm các khoản tiền bồi thường thiệt hại và phạt vi phạm phát sinh đến ngày Hội đồng trọng tài mở phiên họp. Nội dung này thuộc phạm vi đơn khởi kiện ban đầu nên không phải là yêu cầu khởi kiện mới, việc Hội đồng trọng tài xem xét giải quyết mà không thực hiện các thủ tục tố tụng như “Đơn khởi kiện” ban đầu là không trái với quy tắc tố tụng trọng tài.
Xét các lý do yêu cầu hủy phán quyết còn lại từ (3) đến (9): Nhận thấy các khiếu nại này thuộc về nội dung vụ tranh chấp mà Hội đồng trọng tài đã giải quyết, nên theo quy định tại khoản 4 Điều 71 Luật trọng tài thương mại thì Hội đồng xét đơn yêu cầu không có thẩm quyền xét lại.
Tại phiên họp hôm nay, đại diện Viện kiểm sát đề nghị không chấp nhận yêu cầu về việc hủy phán quyết trọng tài của Công ty T, Công ty phát triển công nghệ V và ông Đỗ Việt T. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với nhận định của hội đồng xét đơn nên chấp nhận.
Từ những nhận định trên, đồng thời căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 68 Luật Trọng tài thương mại, thì khiếu nại của của Công ty T, Công ty phát triển công nghệ V và ông Đỗ Việt T không được chấp nhận nên không có căn cứ để hủy phán quyết Trọng tài vụ tranh chấp số 51/19 HCM ngày 25 tháng 8 năm 2019 của Hội đồng trọng tài thuộc Trung tâm Trọng tài V.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Không hủy Phán quyết trọng tài vụ tranh chấp số 51/19 HCM ngày 25 tháng 8 năm 2019 của Hội đồng trọng tài thuộc Trung tâm Trọng tài V.
2. Quyết định này là quyết định cuối cùng và có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký, các bên, Hội đồng trọng tài không có quyền khiếu nại, kháng cáo, Viện kiểm sát không có quyền kháng nghị./.
| Nơi nhận: - TAND TC; - TAND cấp cao tại TP HCM; - VKSND cấp cao tại TP HCM; - VKSND TP HCM; - Cục THADS TP.HCM; - TT Trọng tài V; - Các đương sự; - Lưu VP, hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT ĐƠN THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Ngô Thanh Nhàn |