- Tranh chấp gì? "Xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trịnh Hoàng B.
- Căn cứ chính? Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 6 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 96 Luật Xử lý vi phạm hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN U MINH TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 16/QĐ-TA | U Minh, ngày 30 tháng 8 năm 2019 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính
đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN U MINH, TỈNH CÀ MAU
Thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
1. Thẩm phán: Ông Dương Minh Út.
2. Thư ký phiên họp: Bà Dương Thị Lụa là Thư ký Tòa án nhân dân huyện U Minh, tỉnh Cà Mau.
Trong ngày 30 tháng 8 năm 2019, tại Cơ sở Cai nghiện ma túy tỉnh Cà Mau tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 16/QĐ-TA ngày 26 tháng 8 năm 2019, đối với:
Họ và tên: Trịnh Hoàng B. Tên gọi khác: B1.
Giới tính: Nam; sinh năm 1990.
Nơi sinh: Huyện T, tỉnh Cà Mau.
Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: Số 75L, khóm 1, phường 2, thành phố C, tỉnh Cà Mau.
Nơi cư trú: Không có nơi cư trú ổn định. Dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ văn hóa: 7/12; nghề nghiệp: Làm thuê.
Tiền án: Năm 2011 có 01 tiền án về tội “Cướp giật tài sản”, năm 2014 có 01 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” chấp hành xong ngày 15-7-2019.
Tiền sự: Không.
Con ông Trịnh Hoàng N và bà Lê Ngọc M.
Người bị đề nghị có mặt tại phiên họp.
Có sự tham gia của:
1. Đại diện hợp pháp của cơ quan đề nghị: Ông Đinh Cộng H là Phó Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện M, tỉnh Cà Mau (Theo văn bản ủy quyền ngày 29-8-2019).
2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện U Minh, tỉnh Cà Mau tham gia phiên họp: Ông Lê Quốc Nin - Kiểm sát viên.
NHẬN THẤY:
Ngày 27-7-2019, Công an xã K, huyện M nhận được tin báo đối tượng Trịnh Hoàng B có biểu hiện sử dụng chất ma túy. Qua làm việc B thừa nhận đã thực hiện hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Qua thử test chất ma túy của Trạm y tế xã K, huyện M ngày 27-7-2019 kết luận: Trịnh Hoàng B đã nghiện ma túy dạng ma túy MET (ma túy đá) và MDMA (thuốc lắc). Quá trình lập hồ sơ đề nghị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc xác định đối tượng Trịnh Hoàng B không có nơi cư trú ổn định.
Tại phiên họp, đại diện Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện M đề nghị: Trịnh Hoàng B đã sử dụng trái phép chất ma túy, hiện nay không có chỗ ở ổn định. Nay đề nghị Tòa án nhân dân huyện U Minh xem xét, áp dụng biện pháp đưa Trịnh Hoàng B vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn từ 18 tháng đến 24 tháng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện U Minh phát biểu ý kiến: Về trình tự lập hồ sơ đề nghị đúng theo quy định Luật xử lý vi phạm hành chính và Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20 tháng 01 năm 2014 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân. Ý kiến của Viện kiểm sát về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính: Thống nhất với đề nghị của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện U Minh áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trịnh Hoàng B.
Tại phiên họp, Trịnh Hoàng B thừa nhận hành vi sử dụng chất ma túy là vi phạm pháp luật; xác định hiện nay không có nơi cư trú ổn định nên Cơ quan có thẩm quyền lập hồ sơ đề nghị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là đúng với hành vi vi phạm nhưng yêu cầu xem xét giảm nhẹ thời hạn.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu có trong hồ sơ trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ; đề nghị của đại diện Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện U Minh; ý kiến của đại diện Viện kiểm sát và đối tượng bị đề nghị tại phiên họp.
XÉT THẤY:
Về thời hiệu xử lý vi phạm hành chính: Ngày 27-7-2019, Công an xã K, huyện M phát hiện Trịnh Hoàng B sử dụng trái phép chất ma túy và lập hồ sơ đề nghị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc nên căn cứ điểm d khoản 2 Điều 6 Luật xử lý vi phạm hành chính thì thời hiệu áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trịnh Hoàng B vẫn còn.
Về trình tự, thủ tục lập hồ sơ đề nghị đã thực hiện đúng theo quy định tại Điều 103, 104 của Luật xử lý vi phạm hành chính và Điều 8 của Nghị định 221/2013/NĐ-CP ngày 30 tháng 12 năm 2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Tại thời điểm lập hồ sơ đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, Trịnh Hoàng B có nơi đăng ký nhân khẩu thường trú tại khóm 1, phường 2, thành phố C, tỉnh Cà Mau. Qua xác minh, Trịnh Hoàng B sống lang thang không có nơi cư trú ổn định.
Xét tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi: Tại biên bản ghi lời khai và bản tự khai ngày 27-7-2019, Trịnh Hoàng B thừa nhận đã sử dụng trái phép chất ma túy dạng ma túy Đá và thuốc lắc trong khoảng thời gian dài (bắt đầu từ năm 2011 cho đến nay), hiện nay đã đến mức nghiện. Lời thừa nhận của B phù hợp với kết quả xét nghiệm tình trạng nghiện ma túy và phù hợp với các tài liệu có tại hồ sơ. Tại thời điểm sử dụng ma túy, B đã đủ 18 tuổi có đầy đủ năng lực trách nhiệm hành chính, có đầy đủ khả năng nhận thức hành vi sử dụng trái phép chất ma túy bị pháp luật cấm, thấy trước được tác hại của việc sử dụng trái phép chất ma túy nhưng vẫn thực hiện, nhằm thỏa mãn nhu cầu về ma túy của bản thân.
Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Trịnh Hoàng B là nguy hiểm cho xã hội, đã tác động và gây khó khăn trong chính sách quản lý của Nhà nước đối với chất ma túy; gây nguy hại đến tính mạng, sức khoẻ của con người và sức khỏe của chính bản thân Trịnh Hoàng B. Đồng thời, hành vi của B còn làm tăng số lượng người sử dụng trái phép chất ma túy trên địa bàn huyện và ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương.
Từ các căn cứ nêu trên, xét thấy cần áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trịnh Hoàng B có thời hạn nhất định, nhằm đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật, nhằm giáo dục giúp cho B có thời gian cai nghiện tốt để đảm bảo sức khỏe cho bản thân, khi trở về tái hòa nhập với cộng đồng trở thành công dân có ích cho xã hội.
Tuy nhiên, khi bị phát hiện hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, Trịnh Hoàng B đã tự nguyện khai báo, hợp tác với cơ quan chức năng trong quá trình lập hồ sơ xử lý vi phạm hành chính là tình tiết giảm nhẹ. Xét nhân thân B đã bị kết án về hành vi “Cướp giật tài sản” và “Trộm cắp tài sản”, hiện nay chưa xóa án tích là các tình tiết tăng nặng khi áp dụng thời hạn đối với B.
Như đã phân tích trên, xét đề nghị của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện M và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 6, khoản 1 Điều 96 và điểm b khoản 1 Điều 103 Luật xử lý vi phạm hành chính.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trịnh Hoàng B.
2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 21 (Hai mươi mốt) tháng, kể từ ngày 27 tháng 7 năm 2019.
3. Người bị đề nghị Trịnh Hoàng B có quyền khiếu nại, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện M có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân huyện U Minh có quyền kháng nghị trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Cà Mau; - VKSND huyện U Minh; - CAND huyện U Minh; - Phòng LĐ-TB&XH huyện M; - Cơ sở Cai nghiện ma túy tỉnh Cà Mau; - UBND Phường 2, thành phố C; - Trịnh Hoàng B; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN (Đã ký) Dương Minh Út |