vanban.org

Quyết định 16/QĐ-TA

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn T.

Cơ sở tiếp nhận: Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Bến Tre. Địa chỉ: Ấp Tân An, xã Tân Xuân, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 12 (mười hai) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Quyết định áp dụng BPXLHC đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn T.
  • Căn cứ chính? Điều 95 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 20 Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BÌNH ĐẠI
TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 16/QĐ-TABình Đại, ngày 16 tháng 5 năm 2025

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH ĐẠI, TỈNH BẾN TRE.

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Ông Bùi Thái Dương.

2. Thư ký phiên họp: Bà Lê Thị Kim Tuyết.

Ngày 16 tháng 5 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số: 12/QĐ-TA ngày ngày 07 tháng 5 năm 2025 đối với:

Họ và tên: NGUYỄN VĂN T, sinh ngày: 31/12/1993. Giới tính: Nam. Tên gọi khác: không có. Căn cước công dân số 083093010981. Nơi cấp: Cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: không. Trình độ văn hóa: 04/12. Nghề nghiệp: Không. Nguyên quán: xã T, huyện B, tỉnh Bến Tre

Nơi cư trú: Ấp B, xã T, huyện B, tỉnh Bến Tre.

- Tiền sự: có 01 tiền sự (Ngày 24/01/2025 bị công an xã T ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 1.500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy).

- Tiền án: Không.

Con ông Nguyễn Văn N và bà Phạm Thị T.

(Người bị đề nghị Nguyễn Văn T vắng mặt tại phiên họp).

Có sự tham gia của:

1. Người đề nghị: Trưởng công an xã T, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Cao Thanh Quân – Công an viên, công an xã T, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre (Có mặt)

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Đại tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Thị Thảo Loan - Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Ngày 21/01/2025 Công an xã T, huyện Bình Đại tiến hành xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể đối với Nguyễn Văn T cho kết quả dương tính với ma túy (Ma túy đá) dạng Methamphetamine. Qua làm việc Nguyễn Văn T khai đã sử dụng trái phép chất ma túy vào ngày 18/01/2025 tại nhà thuộc xã T, huyện B, tỉnh Bến Tre. Vụ việc được Công an xã T, huyện B lập biên bản vi phạm hành chính đồng thời ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 1.500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

Ngày 25/01/2025 Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã T, huyện B ban hành Quyết định số: 02/QĐ-UBND về việc áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy đối với Nguyễn Văn T, thời gian 01 năm kể từ ngày 25/01/2025.

Ngày 11/4/2025 Công an xã T, huyện B tiến hành xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể đối với Nguyễn Văn T cho kết quả dương tính với ma túy (Ma túy đá) dạng Methamphetamine. Qua làm việc Nguyễn Văn T khai đã sử dụng trái phép chất ma túy vào ngày 07/4/2025 tại nhà thuộc xã T, huyện B, tỉnh Bến Tre. Vụ việc được Công an xã T, huyện B lập biên bản vi phạm hành chính.

Ngày 16/4/2025 Nguyễn Văn T có đơn đề nghị xác định tình trạng nghiện. Qua quá trình theo dõi xác định tình trạng nghiện ngày 22/4/2025 Trạm y tế xã T xác định Nguyễn Văn T có nghiện ma túy dạng chất Methamphetamine.

Ngày 28/4/2025 Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã T, huyện B ban hành Quyết định số: 02/QĐ-UBND về việc dừng quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy đối với Nguyễn Văn T kể từ ngày 28/4/2025.

Kể từ ngày có kết quả xác định nghiện ma túy của Trạm y tế xã T, huyện B nhưng Nguyễn Văn T không đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện hoặc đăng ký điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện B.

Do hết thời hạn đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện nên Trưởng công an xã T, huyện B có văn bản đề nghị xem xét áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy thuộc ấp Tân An, xã Tân Xuân, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre đối với Nguyễn Văn T.

Tại phiên họp:

- Người đề nghị vẫn giữ nguyên yêu cầu. Đề nghị Tòa án xem xét, áp dụng biện pháp đưa vào cơ cở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn T thời gian từ 12 tháng đến 18 tháng.

- Người bị đề nghị Nguyễn Văn T vắng mặt không có lý do mặc dù đã được tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên họp.

- Đại viện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Đại phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật của Tòa án trong việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính: Trong quá trình giải quyết vụ việc, Thẩm phán, Thư ký Tòa án, Cơ quan đề nghị đã tuân thủ đúng theo quy định của pháp luật trong việc xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính, hồ sơ đầy đủ và được tiến hành đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật.

Về đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc: Đề nghị của người đề nghị là có căn cứ đúng theo quy định của pháp luật, đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của Trưởng công an xã T đối với Nguyễn Văn T. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn T với thời gian 18 tháng.

XÉT THẤY:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên họp, kết quả tranh luận tại phiên họp, ý kiến của Kiểm sát viên; Tòa án nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Người bị đề nghị Nguyễn Văn T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên họp nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào khoản 2 Điều 20 của Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân. Tòa án vẫn mở phiên họp vắng mặt Nguyễn Văn T là phù hợp.

Về thẩm quyền giải quyết:

Ngày 21/02/2025 Trưởng công an xã T, huyện Bình Đại có văn bản đề nghị số: 02/ĐN-CNBB, đề nghị Tòa án xem xét, áp dụng biện pháp đưa vào cơ cở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn T. Do đó vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bình Đại theo quy định tại khoản 1 Điều 96, khoản 2 Điều 105 của Luật xử lý vi phạm hành chính và khoản 1 Điều 3 của Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân. Điểm a khoản 1 Điều 7 Thông tư liên tịch số 03/2025/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC ngày 01/3/2025.

Về thời hiệu áp dụng biện pháp xử lý hành chính:

Căn cứ vào bản tường trình ngày 11/4/2025, Biên bản vi phạm hành chính số: 13/BB-VPHC ngày 11/4/2025 về lĩnh vực an ninh trật tự, an toàn xã hội của Công an xã T, huyện B thì Nguyễn Văn T có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy vào ngày 07/4/2025. Tính đến ngày Tòa án thụ lý hồ sơ và mở phiên họp, vụ việc còn thời hiệu áp dụng biện pháp xử lý hành chính theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 6 của Luật xử lý vi phạm hành chính.

Về tính hợp pháp của hồ sơ đề nghị:

Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc được lập đúng trình tự thủ tục được quy định tại Luật xử lý vi phạm hành chính; Luật Phòng, chống ma túy; Pháp lệnh số: 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban thường vụ Quốc hội và Nghị định số: 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ.

Về nội dung đề nghị:

Căn cứ vào phiếu kết quả xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể ngày 11/4/2025 và Biên bản vi phạm hành chính số: 13/BB-VPHC ngày 11/4/2025 của Công an xã T, huyện B; Bản tường trình ngày 11/4/2025 của Nguyễn Văn T; Phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy ngày 22/4/2025 của Trạm y tế xã T, huyện Bình Đại xác định Nguyễn Văn T có nghiện ma túy, loại ma túy sử dụng Methamphetamine. Như vậy đã đủ cơ sở xác định Nguyễn Văn T có sử dụng trái phép và nghiện chất ma túy.

Xét thấy: Nguyễn Văn T là người đã đủ 18 tuổi, có nơi cư trú ổn định, có năng lực trách nhiệm hành chính, nhưng có hành vi vi phạm pháp luật sử dụng trái phép chất ma túy. Nguyễn Văn T đã bị áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy nhưng vẫn sử dụng trái phép chất ma túy và nghiện ma túy.

Hành vi của Nguyễn Văn T thuộc đối tượng áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại khoản 1 Điều 32 của Luật Phòng, chống ma túy; khoản 49 Điều 1 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật xử lý vi phạm hành chính và Điều 40 của Nghị định số: 116/2021//NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định một số điều của Luật phòng, chống ma túy, luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy. Do đó Trưởng công an xã T, huyện B căn cứ vào những quy định của pháp luật đề nghị Tòa án xem xét, áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn T là có căn cứ nên được chấp nhận.

Về tình tiết tăng nặng: không có.

Về tình tiết giảm nhẹ: Không có.

Về thời hạn áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc: Mặc dù theo thông báo trả lời yêu cầu tra cứu thông tin tiền án, tiền sự của công an tỉnh Bến Tre thì Nguyễn Văn T năm 2010 bị đưa vào trường giáo dưỡng, năm 2012 bị Tòa án huyện Bình Đại xử phạt 09 tháng. Tuy nhiên, hồ sơ đề nghị không có tài liệu, căn cứ để xác định người bị đề nghị đã được xóa án tích hay chưa. Vì vậy tòa án xem như người bị đề nghị không có tiền án, tiền sự theo nguyên tắc có lợi cho người bị đề nghị. Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 3, khoản 2 Điều 95 của Luật xử lý vi phạm hành chính. Áp dụng biện pháp đưa Nguyễn Văn T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 12 (Mười hai) tháng là phù hợp điều kiện, hoàn cảnh, nhân thân của người bị đề nghị.

Đối với đề nghị của Kiểm sát viên là phù hợp một phần với nhân thân, tính chất mức độ của người bị đề nghị nên được Tòa án chấp nhận một phần đề nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 3, điểm d khoản 2 Điều 6, Điều 95, 96, Điều 105 của Luật xử lý vi phạm hành chính; khoản 49, khoản 56 và khoản 59 Điều 1 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật xử lý vi phạm hành chính.

Căn cứ khoản 1 Điều 3, Khoản 2 Điều 20, Điều 23, Điều 24, Điều 25, Điều 31 và Điều 32 của Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.

Căn cứ khoản 1 Điều 32 của Luật Phòng, chống ma túy;

Căn cứ vào Điều 40 của Nghị định số: 116/2021//NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định một số điều của Luật phòng, chống ma túy, luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy.

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn T.

Cơ sở tiếp nhận: Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Bến Tre. Địa chỉ: Ấp Tân An, xã Tân Xuân, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 12 (mười hai) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Trong thời gian cai nghiện, trường hợp có thay đổi cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ quan có thẩm quyền có trách nhiệm thông báo cho các cá nhân, cơ quan tổ chức có liên quan biết.

3. Quyền khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị đối với Quyết định.

Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Đại có quyền kháng nghị, Trưởng công an xã T có quyền kiến nghị trong thời hạn 05 (Năm) ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố quyết định. Người bị đề nghị có quyền khiếu nại trong thời hạn 05 (Năm) ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định hoặc quyết định được tống đạt hợp lệ.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định: Công an xã T, Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Bến Tre có trách nhiệm thi hành quyết định này.

Cỡ chữ