vanban.org

Quyết định 16/2023/QĐ-PT — Tranh chấp quyền sử dụng đất

TAND TP. Cần Thơ Tuyên án 14/09/2023 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 14/09/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận việc kháng cáo quá hạn của bị đơn ông Nguyễn Văn P và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị T, ông Nguyễn Văn N, bà Nguyễn Thị C và bà Nguyễn Thị L2; Không chấp nhận kháng cáo quá hạn của bà Nguyễn Thị L đối với Bản án dân sự sơ thẩm số 23/2023/DS-ST …

Tòa án cấp sơ thẩm có trách nhiệm tiến hành các thủ tục do Bộ luật tố tụng dân sự quy định. TM HỘI ĐỒNG XÉT HỌP PHÚC THẨM Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "KCQH Nguyen Van P, Nguyen Thi L, Tran Thi Tuyet, Nguyen van N, Nguyen Thi C, Nguyen Thi L2"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận việc kháng cáo quá hạn của bị đơn ông Nguyễn Văn P và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị T, ông Nguyễn Văn N, bà Nguyễn Thị C và bà Nguyễn Thị L2; Không chấp nhận kháng cáo quá hạn của bà Nguyễn Thị L đối với Bản án dân sự sơ thẩm số 23/2023/DS-ST …
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 16/2023/QĐ-PT

QUYẾT ĐỊNH

CHẤP NHẬN VIỆC KHÁNG CÁO QUÁ HẠN

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ

Với Hội đồng xét kháng cáo quá hạn gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Võ Bảo Anh

Các Thẩm phán: 1. Ông Trần Tuấn Quốc

2. Ông Phạm Văn Bình

Thư ký phiên họp: Bà Võ Thị Phong Lan – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Thị Thủy - Kiểm sát viên.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 04/8/2023, các bị đơn ông Nguyễn Văn P, bà Nguyễn Thị L và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị T, ông Nguyễn Văn N, bà Nguyễn Thị C và bà Nguyễn Thị L2 kháng cáo, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa Bản án sơ thẩm số 23/2023/DS-ST ngày 30/5/2023 của Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ; bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, vì cho rằng, phần đất tranh chấp diện tích 192,3m2 là của ông Nguyễn Văn X thuộc thửa 957, được Ủy ban nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H01441, ngày 09/4/2009.

XÉT THẤY:

Trong các ngày 26 và 30/5/2023, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử vụ án (tuyên án ngày 30/5/2023), đến ngày 12/6/2023 tiến hành lập biên bản không tống đạt được và niêm yết bản án đối với các đương sự vắng mặt tại phiên tòa, không có mặt khi tuyên án. Ngày 04/8/2023, các bị đơn ông Nguyễn Văn P, bà Nguyễn Thị L và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị T, ông Nguyễn Văn N, bà Nguyễn Thị C và bà Nguyễn Thị L2 cùng nộp đơn kháng cáo là quá thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án hoặc niêm yết theo quy định tại Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự. Xét lý do kháng cáo quá hạn của các đương sự, nhận thấy:

- Đối với bị đơn bà Nguyễn Thị L:

Bà có mặt tham gia phiên tòa nhưng đến phần phát biểu quan điểm của đại diện Viện kiểm sát thì tự ý bỏ về và vắng mặt khi tuyên án. Thời hạn kháng cáo của bà trong trường hợp này là 15 ngày được tính từ ngày tuyên án (ngày 30/5/2023). Đến ngày 04/8/2023, bà kháng cáo (cùng đứng đơn kháng cáo với bị đơn ông Nguyễn Văn P) là quá thời hạn quy định tại khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự. Bà L cho rằng, mình không nhận được bản án sơ thẩm, không biết việc Tòa án đã niêm yết bản án nên không thể kháng cáo đúng hạn, tuy nhiên với những lý do nêu ra là không thuộc trường hợp bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan nên không có căn cứ chấp nhận.

- Đối với bị đơn ông Nguyễn Văn P và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị T, ông Nguyễn Văn N, bà Nguyễn Thị C và bà Nguyễn Thị L2:

Các ông bà vắng mặt tại phiên tòa, không tham gia xét xử vụ án nên thời hạn kháng cáo là 15 kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Theo các tài liệu có trong hồ sơ kháng cáo quá hạn nhận thấy:

Do không thực hiện được việc tống đạt trực tiếp bản án cho các đương sự nên cán bộ Tòa án tiến hành niêm yết. Tại các Biên bản V/v không thực hiện được việc tống đạt lập ngày 12/6/2023 đối với các bị đơn ông P, bà L (Bút lục 36) không ghi rõ lý do vì sao không thực hiện được việc tống đạt cho những người này và Biên bản V/v không thực hiện được việc tống đạt lập ngày 12/6/2023 đối với những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: bà T, ông N, bà C và bà L2 (Bút lục 32) có ghi lý do không tống đạt được “các đương sự không đồng ý nhận” nhưng không ghi rõ lý do của việc “từ chối nhận” là chưa phù hợp quy định tại khoản 4 Điều 177 Bộ luật tố tụng dân sự. Đồng thời, trong biên bản cũng không ghi rõ địa điểm cụ thể thực hiện việc tống đạt trực tiếp cho các đương sự này, chỉ ghi chung chung “ấp Thới Xuyên, xã Thới Đông, huyện Cờ Đỏ” là không đảm bảo khách quan. Tại phiên họp xét kháng cáo quá hạn, các đương sự có mặt tham gia cho rằng, từ trước đến nay, không thấy ai đến nơi ở của mình để tống đạt bản án và họ chỉ tiếp cận được bản án vào ngày 02/8/2023 khi được Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Thới Đông giao cho.

Như vậy, thủ tục tống đạt trực tiếp văn bản tố tụng chưa thực hiện đúng theo quy định nhưng lại tiến hành niêm yết là trái với quy định tại khoản 1 Điều 179 Bộ luật tố tụng dân sự “việc!niêm!yết!công!khai!văn!bản!tố!tụng!được! thực!hiện!trong!trường!hợp!không!thể!cấp,!tống!đạt,!thông!báo!trực!tiếp”.

Mặt khác, cấp sơ thẩm có lập biên bản tiến hành niêm yết bản án tại trụ sở Tòa án và Ủy ban nhân dân cấp xã nơi đương sự cư trú là phù hợp nhưng còn việc niêm yết tại nơi cư trú của đương sự là chưa đảm bảo đúng quy định tại điểm b khoản 2 Điều 179 Bộ luật tố tụng dân sự. Các Biên bản V/v niêm yết bản án lập ngày 12/6/2023 (bút lục 31, 35) không thể hiện địa điểm cụ thể tiến hành niêm yết, trong khi các đương sự đều có nhà ở riêng lẻ nhưng chỉ ghi chung chung “ấp Thới Xuyên, xã Thới Đông, huyện Cờ Đỏ”, trường hợp này là phải niêm yết tại nơi cư trú (nhà ở, nơi sinh sống) của các đương mới bảo đảm đúng quy định.

Từ những vấn đề phân tích nêu trên, do việc cấp, tống đạt, niêm yết bản án chưa đúng quy định tố tụng nên những người kháng cáo quá hạn (trừ bà L) không thể biết được kết quả xét xử của Tòa án để thực hiện việc kháng cáo đúng thời hạn là có cơ sở xem xét.

Quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát phúc thẩm tham gia phiên họp, đề nghị Hội đồng xét họp, chấp nhận kháng cáo quá hạn của bị đơn ông P và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà T, ông N, bà C và bà L2, đồng thời không chấp nhận kháng cáo quá hạn của bà L là phù hợp.

Căn cứ vào Điều 275 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Chấp nhận việc kháng cáo quá hạn của bị đơn ông Nguyễn Văn P và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị T, ông Nguyễn Văn N, bà Nguyễn Thị C và bà Nguyễn Thị L2; Không chấp nhận kháng cáo quá hạn của bà Nguyễn Thị L đối với Bản án dân sự sơ thẩm số 23/2023/DS-ST ngày 30 tháng 5 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ về việc tranh chấp quyền sử dụng đất.

2. Tòa án cấp sơ thẩm có trách nhiệm tiến hành các thủ tục do Bộ luật tố tụng dân sự quy định.

TM HỘI ĐỒNG XÉT HỌP PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP

Cỡ chữ