vanban.org

Quyết định 16/2022/QĐST-VDS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn yêu cầu tuyên bố một người mất tích của bà Trần Thị X.

Tuyên bố: Anh Võ Quốc P, sinh năm 1979 mất tích. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Võ Quốc Phong mất tích"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu tuyên bố một người mất tích của bà Trần Thị X.
  • Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 16/2022/QĐST-VDSBuôn Ma Thuột, ngày 20 tháng 5 năm 2022

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

Về việc: Tuyên bố một người mất tích

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Nguyễn Thị My My - Thẩm phán.

Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh -Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột tham gia phiên họp: Ông Y Lương Byă - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 5 năm 2022, tại trụ sở Tòa án Nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 29/2021/TLST-VDS ngày 11 tháng 10 năm 2021 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích” theo Quyết định mở phiên họp số 16/2022/QĐST-VDS ngày 09 tháng 5 năm 2022, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Ông Võ Xuân N (Đã chết ngày 25/7/2021)

Người thừa kế quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Võ Xuân N: Bà Trần Thị X – Sinh năm: 1956 (Có mặt)

Địa chỉ: Thôn T, xã H, Thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Ông Võ Quốc P, sinh năm: 1979 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn T, xã H, Thành phố B, tỉnh Đắk Lắk

+ Bà Võ Thị Mỹ L, sinh năm: 1989 (Có mặt)

Địa chỉ: Thôn T, xã H, Thành phố B, tỉnh Đắk Lắk

+ Ông Võ Quốc T, sinh năm: 1986 (Có mặt)

Địa chỉ: Thôn T, xã H, Thành phố B, tỉnh Đắk Lắk

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Bà Trần Thị X trình bày: Ông Võ Xuân N và bà Trần Thị X chung sống với nhau và có 03 người con là anh Võ Quốc T, sinh năm 1986, chị Võ Thị Mỹ L, sinh năm 1989 và anh Võ Quốc P, sinh năm 1979. Từ tháng 1/2018, anh Võ Quốc P bỏ nhà đi, không thấy quay trở về cũng không có tin tức gì của anh Võ Quốc P. Gia đình đã tìm kiếm nhiều lần nhưng không có tin tức gì của anh Võ Quốc P. Vì vậy ông Võ Xuân N đã có đơn đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột tuyên bố anh Võ Quốc P, sinh năm: 1979 mất tích. Ngày 25/7/2021, ông Võ Xuân N chết, người thừa kế quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Võ Xuân N là bà Trần Thị X (vợ của ông Võ Xuân N) và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Võ Thị Mỹ L, anh Võ Quốc T yêu cầu Tòa án tiếp tục tuyên bố anh Võ Quốc P mất tích.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột phát biểu ý kiến: Anh Võ Quốc P, sinh năm 1979 là con của ông Võ Xuân N và bà Trần Thị X, cư trú tại thôn T, xã H, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Năm 2018, anh Võ Quốc P bỏ nhà đi khỏi địa phương, không có tin tức gì. Như vậy, việc bà Trần Thị X yêu cầu tuyên bố anh Võ Quốc P mất tích là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án Nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột nhận định:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Đây là việc dân sự về yêu cầu tuyên bố một người mất tích thuộc thẩm quyền giải quyết của của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột theo quy định tại khoản 1 Điều 27; điểm a khoản 2 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Anh Võ Quốc P, sinh năm 1979 là con của ông Võ Xuân N và bà Trần Thị X, cư trú tại thôn T, xã H, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Năm 2018, anh Võ Quốc P bỏ nhà đi khỏi địa phương, không có tin tức gì. Ngày 15/7/2021, ông Võ Xuân N có đơn yêu cầu tuyên bố anh Võ Quốc P mất tích. Ngày 25/7/2021, ông Võ Xuân N chết, người thừa kế quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Võ Xuân N là bà Trần Thị X (vợ của ông Võ Xuân N) và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Võ Thị Mỹ L, anh Võ Quốc T yêu cầu Tòa án tiếp tục tuyên bố anh Võ Quốc P mất tích

Tại biên bản xác minh, được Công an xã Hòa Thắng cho biết: Anh Võ Quốc P có đăng ký hộ khẩu thường trú tại Thôn T, xã H, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Anh Võ Quốc P đã bỏ đi khỏi địa phương từ năm 2018 cho đến nay. Khi đi khỏi địa phương, anh Võ Quốc P không có thông báo cho chính quyền địa phương nên hiện nay anh Võ Quốc P đang ở đâu, làm gì thì địa phương không biết.

Ngày 06/12/2021, Toà án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột đã ban hành Quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích số 09/2021/QĐ-TA để thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng tìm kiếm anh Võ Quốc P. Đến nay đã hết thời hạn thông báo tìm kiếm theo quy định tại khoản 2 Điều 388 của Bộ luật tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức gì về anh Võ Quốc P.

Từ nhận định trên, Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột chấp nhận yêu cầu của bà Trần Thị X, tuyên bố anh Võ Quốc P mất tích là phù hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 68 của Bộ luật dân sự.

Về lệ phí: Bà Trần Thị X phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên bà Trần Thị X là người cao tuổi và có đơn xin miễn nộp tiền lệ phí nên bà Trần Thị X được miễn tiền lệ phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Về chi phí đăng thông báo, nhắn tin: Bà Trần Thị X phải chịu 2.425.000 đồng tiền chi phí đăng thông báo nhắn tin tìm kiếm mà bà Trần Thị X đã nộp.

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, Điều 149, Điều 370, Điều 371, Điều 372 và Điều 389 của Bộ luật tố tụng dân sự;

- Căn cứ khoản 1 Điều 68 của Bộ luật dân sự;

- Căn cứ khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận đơn yêu cầu tuyên bố một người mất tích của bà Trần Thị X.

Tuyên bố: Anh Võ Quốc P, sinh năm 1979 mất tích.

2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự:

Bà Trần Thị X được miễn nộp tiền lệ phí giải quyết việc dân sự.

Về chi phí đăng thông báo, nhắn tin: Bà Trần Thị X phải chịu 2.425.000 đồng tiền chi phí đăng thông báo nhắn tin tìm kiếm mà bà Trần Thị X đã nộp.

3. Người yêu cầu có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát cùng cấp, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo Quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được hoặc kể từ ngày Quyết định được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Cỡ chữ