- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Chị Nguyễn Thị Thúy K yêu cầu tuyên bố một người mất tích"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Thúy K về việc yêu cầu Tòa án tuyên bố anh Vy Ngọc T mất tích.
- Căn cứ chính? Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 287 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ Q TỈNH N | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 16/2021/QĐST-VDS | TP. Quảng Ngãi, ngày 15 tháng 12 năm 2021 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v tuyên bố một người mất tích
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ Q, TỈNH N
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Trần Thị Túc.
Thư ký phiên họp: Bà Đặng Thị Ngọc Như - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân thành phố Q, TỈNH N.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Q tham gia phiên họp: Ông Võ Hồng Phương - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 12 năm 2021, tại Trụ sở Toà án nhân dân thành phố Q, mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 188/2021/TLST-VDS ngày 20 tháng 7 năm 2021 theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 12/2021/QĐST-VDS ngày 08 tháng 12 năm 2021, gồm người tham gia tố tụng sau đây:
Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Chị Nguyễn Thị Thúy K, sinh năm: 1991.
Địa chỉ: Khu dân cư A, tổ dân phố T, phường T, thành phố Q, TỈNH N.
Địa chỉ liên hệ: Lô N1.1-03 khu đô thị A, phường N, thành phố Q, TỈNH N.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Tại đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự ngày 25/6/2021 và các lời khai quá trình giải quyết việc dân sự, chị Nguyễn Thị Thúy K trình bày: Chị K và anh Vy Ngọc T là vợ chồng, đăng ký kết hôn vào ngày 25/11/2015 tại Ủy ban nhân phường T, thành phố Q, TỈNH N. Sau khi kết hôn, chị K và anh T sống hạnh phúc với nhau được hai năm. Chị K và anh T có hai con chung tên là Vy Nguyễn An N, sinh ngày 07/02/2018 và cháu Vy Nguyễn Nhã U, sinh ngày 17/05/2016. Hiện hai cháu đang sống với chị K tại địa chỉ: Tổ 3, ấp 4, đường kênh T, xã A, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh. Đến đầu năm 2018, anh T bắt đầu bỏ bê vợ con, suốt ngày chỉ tụ tập ăn chơi với bạn bè. Tuy nhiên vì nghĩ đến tương lai của các con nên chị K cố gắng nhẫn nhịn, khuyên răn anhThành thay đổi tính tình, lo làm ăn lương thiện, chăm sóc các con cùng chị, thế nhưng anh T vẫn không thay đổi tính tình. Thậm chí, anh T có quan hệ bất chính với người phụ nữ khác rồi xa lánh vợ con, chửi mắng xúc phạm chị K mỗi khi chị K khuyên nhủ anh T. Đến đầu tháng 6/2019, anh T bỏ nhà đi đến nay không rõ tung tích. Chị K và gia đình đã tìm kiếm rất nhiều lần, có đăng tải trên phương tiện thông tin đại chúng để tìm kiếm nhưng vẫn không rõ hiện nay anh T đi đâu, ở đâu. Nay chị K muốn ly hôn anh T nhưng không biết anh T ở đâu nên yêu cầu Tòa án giải quyết tuyên bố anh Vy Ngọc T mất tích để chị K chấm dứt quan hệ hôn nhân với anh T.
Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Q phát biểu quan điểm giải quyết việc dân sự và đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Q chấp nhận đơn yêu cầu của chị Nguyễn Thị Thúy K; tuyên bố anh Vy Ngọc T mất tích. Chị Nguyễn Thị Thúy K phải chịu chi phí cho việc đăng, phát thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cứ trú và chịu lệ phí giải quyết việc dân sự theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân thành phố Q nhận định:
- Về tố tụng:
[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết việc dân sự: Chị Nguyễn Thị Thúy K yêu cầu Tòa án tuyên bố anh Vy Ngọc T là mất tích. Đây là việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 3 Điều 27 của Bộ luật tố tụng dân sự. Nơi cư trú cuối cùng của anh T là: Khu dân cư A, tổ dân phố T, Thọ Tây B, phường T, thành phố Q, TỈNH N nên việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Q theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 35 và điểm b khoản 2 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung:
Về quyền yêu cầu: Chị Nguyễn Thị Thúy K trình bày, chị K và anh T xây dựng hạnh phúc trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân phường T, thành phố Q, TỈNH N nên quan hệ hôn nhân giữa anh, chị là hợp pháp theo quy định tại Điều 8 và Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình. Do đó, chị Nguyễn Thị Thúy K có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố anh Vy Ngọc T là mất tích . Lý do yêu cầu Tòa án tuyên bố anh Vy Ngọc T là mất tích là để chị K làm thủ tục ly hôn với anh T.
Việc thông báo tìm kiếm được đăng trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án, đăng trên cổng thông tin điện tử của Ủy ban nhân dân TỈNH N, đăng trên 03 số báo Nhân dân liên tiếp ngày 30 và 31/7/2021, 01/8/2021 và đăng thông tin tìm kiếm trên Chi nhánh trung tâm quảng cáo và dịch vụ truyền thông tại Thành phố Hồ Chí Minh các ngày 29, 30 và 31/7/2021. Đã hết thời hạn 04 tháng kể từ ngày đăng, phát thông báo tìm kiếm lần đầu tiên, Tòa án vẫn chưa nhận được tin tức gì của anh Vy Ngọc T.
Xét thấy, anh Vy Ngọc T đã được Tòa án đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc anh T đang ở đâu, làm gì, còn sống hay đã chết nên đủ cơ sở chấp nhận đơn yêu cầu của chị Nguyễn Thị Thúy K, tuyên bố anh Vy Ngọc T là mất tích theo quy định theo quy định tại khoản 1 Điều 68 của Bộ luật dân sự và Điều 389 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp là phù hợp nên được chấp nhận.
Về lệ phí: Chị Nguyễn Thị Thúy K phải nộp lệ phí dân sự sơ thẩm theo khoản 1 Điều 37 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Về quyền kháng cáo, kháng nghị: Chị Nguyễn Thị Thúy K, Viện kiểm sát có quyền kháng cáo, kháng nghị quyết định theo Điều 371 và khoản 1 Điều 372 của Bộ luật tố tụng dân sự.
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39, khoản 1,4 Điều 91, Điều 287, 388, 389 của Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 68, 69 Bộ luật dân sự 2015, khoản 1 Điều 37 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Thúy K về việc yêu cầu Tòa án tuyên bố anh Vy Ngọc T mất tích.
Tuyên bố anh Vy Ngọc T, sinh ngày 18/6/1991; nơi cư trú cuối cùng: Khu dân cư A, tổ dân phố T, Tây B, phường T, thành phố Q, TỈNH N là người mất tích.
Kể từ ngày Quyết định này có hiệu lực pháp luật thì quan hệ về hôn nhân, gia đình, các quan hệ nhân thân khác và quan hệ tài sản của anh Vy Ngọc T được giải quyết như đối với người mất tích; tài sản của anh Vy Ngọc T được giải quyết theo quy định của pháp luật.
- Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Chị Nguyễn Thị Thúy K phải chịu lệ phí dân sự sơ thẩm mà chị đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: AA/2018/0007738 ngày 20/7/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Q, TỈNH N; chị K đã nộp đủ lệ phí dân sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo, kháng nghị: Chị Nguyễn Thị Thúy K có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
| Nơi nhận: - TAND TỈNH N; - VKSND TP.Q - Chi cục THADS TP.Q - UBND phường T - Lưu: Hồ sơ việc dân sự. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Trần Thị Túc |