vanban.org

Quyết định 16/2021/QĐST-VDS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích

TAND huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp Tuyên án 27/09/2021 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn yêu cầu của bà Phạm Thị T về việc yêu cầu tuyên bố ông Trần Thanh T mất tích.

Tuyên bố: Ông Trần Thanh T, sinh năm 1974. Địa chỉ: ấp K, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp mất tích. Lệ phí, chi phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm: Bà Phạm Thị T phải chịu chi phí cho việc đăng, phát thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích số tiền là 3.000.000đ (Ba triệu đồng), đã nộp xo… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Yêu cầu tuyên bố một người mất tích"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu của bà Phạm Thị T về việc yêu cầu tuyên bố ông Trần Thanh T mất tích.
  • Căn cứ chính? Điều 68 Bộ luật Dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TAM NÔNG
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 16/2021/QĐST-VDSTam Nông, ngày 27 tháng 9 năm 2021

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v Yêu cầu tuyên bố một người mất tích

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM NÔNG, TỈNH ĐỒNG THÁP

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán-Chủ tọa phiên họp: Ông Lê Hoàng Vũ.

Thư ký phiên họp: Ông Lê Trần Minh Châu - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Nông tham gia phiên họp: Bà Hồ Thị Thuần - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 9 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Đồng Tháp, mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 07/2021/TLST- VDS ngày 22 tháng 3 năm 2021 về việc yêu cầu “Tuyên bố một người mất tích” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số: 11/2021/QĐST-VDS ngày 30 tháng 8 năm 2021 và Thông báo về việc thay đổi ngày mở phiên họp số:01/2021/TB-TA ngày 06/9/2021 gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Phạm Thị T, sinh năm 1976, (có mặt).

Địa chỉ: ấp K, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Trần Thanh T, sinh năm 1974, (vắng mặt).

Địa chỉ: ấp K, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ

Theo đơn yêu cầu tuyên bố một người mất tích bà Phạm Thị T trình bày: Vào năm 2003 bà và ông T kết hôn với nhau, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P vào ngày 12/12/2003. Đến năm 2016, ông T bỏ nhà đi biệt tích cho đến nay không liên lạc được, bà T nhiều lần liên lạc, tìm kiếm địa chỉ nhưng không gặp, bà T có đến gặp những người thân của ông T để tìm kiếm nhưng vẫn không gặp. Hiện nay bà T muốn ly hôn với ông Trần Thanh T để ổn định cuộc sống nên yêu cầu Tòa án giải quyết tuyên bố ông Trần Thanh T, sinh năm 1974. Địa chỉ: ấp K, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp mất tích, để bà làm thủ tục ly hôn với ông Trần Thanh T.

Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T:

Về tố tụng: Thẩm phán, Thư ký phiên họp đảm bảo việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết việc dân sự và người yêu cầu chấp hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Về nội dung giải quyết việc dân sự: Bà Phạm Thị T yêu cầu Tòa án giải quyết tuyên bố ông Trần Thanh T, sinh năm 1974. Địa chỉ: ấp K9, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp mất tích. Xét thấy, theo xác nhận của Công an xã P ngày 17/02/2021 xác nhận ông Trần Thanh T, sinh năm 1974. Địa chỉ: ấp K, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp bỏ địa phương đi từ năm 2016 đến nay không về địa phương, hiện tại không có mặt tại địa phương, đồng thời bà Phạm Thị T có trực tiếp đến gặp những người thân của ông Trần Thanh T để tìm kiếm nhưng cũng không gặp. Như vậy, ông Trần Thanh T đã biệt tích năm 2016 đến nay nên yêu cầu của bà Phạm Thị T là có cơ sở để chấp nhận.

Do đó, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T đề nghị Tòa án nhân dân huyện T áp dụng Điều 369, Điều 370 Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 68 Bộ luật dân sự để chấp nhận yêu cầu của người yêu cầu.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện T nhận định:

Về tố tụng:

Đây là việc dân sự yêu cầu tuyên bố một người mất tích nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện T theo quy định tại khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Theo xác nhận của công an xã P ngày 17/02/2021 về việc xác nhận ông Trần Thanh T, sinh năm 1974. Địa chỉ: ấp K, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp đã bỏ địa phương đi từ năm 2016 đến nay, hiện tại không có mặt tại địa phương. Đồng thời, bà Phạm Thị T có đến gặp những người thân của ông T để tìm kiếm nhưng vẫn không gặp.

Trong thời gian thụ lý yêu cầu của bà Phạm Thị T, Tòa án có ra Quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích đối với ông Trần Thanh T và được đăng trên một trong các báo hàng ngày của trung ương trong ba số liên tiếp, cổng thông tin điện tử Tòa án và phát sóng trên đài phát thanh của trung ương ba lần trong ba ngày liên tiếp, trong thời hạn 04 tháng kể từ ngày đăng, phát thông báo lần đầu tiên nhưng ông Trần Thanh T vẫn không có mặt. Đồng thời Tòa án cũng đã xác minh những người lân cận nơi ông T từng cư trú đều xác định ông T đã bỏ địa phương đi từ năm 2016 đến nay, không trở về địa phương.

Nhận thấy các tài liệu, chứng cứ trên việc bà Phạm Thị T yêu cầu tuyên bố ông Trần Thanh T mất tích là phù hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 68 của Bộ luật dân sự.

Khoản 1 Điều 68 Bộ luật dân sự quy định “Khi một người biệt tích 02 năm liền trở lên, mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc người đó còn sống hay đã chết thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Tòa án có thể tuyên bố người đó mất tích.

Thời hạn 02 năm được tính từ ngày biết được tin tức cuối cùng về người đó; nếu không xác định được ngày có tin tức cuối cùng thì thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của tháng tiếp theo tháng có tin tức cuối cùng;…”.

Đối chiếu với quy định của pháp luật thì ông Trần Thanh T đã biệt tích từ năm 2016 đến nay đã hơn 02 năm nên có căn cứ để chấp nhận đơn yêu cầu của bà Phạm Thị T theo quy định tại Điều 389 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T là có căn cứ nên chấp nhận.

Lệ phí, chi phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm: Bà Phạm Thị T phải chịu lệ phí, chi phí giải quyết việc dân sự theo quy định của pháp luật.

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ vào khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39, Điều 369, Điều 370, 372, khoản 2, Điều 385, 388 và Điều 389 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Căn cứ khoản 1 Điều 68 Bộ luật dân sự .

Căn cứ khoản 1, Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Chấp nhận đơn yêu cầu của bà Phạm Thị T về việc yêu cầu tuyên bố ông Trần Thanh T mất tích.

Tuyên bố: Ông Trần Thanh T, sinh năm 1974. Địa chỉ: ấp K, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp mất tích.

- Lệ phí, chi phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm: Bà Phạm Thị T phải chịu chi phí cho việc đăng, phát thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích số tiền là 3.000.000đ (Ba triệu đồng), đã nộp xong, không phải nộp thêm. Bà Phạm Thị T phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí mà bà T đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số: BI/2019/0010008 ngày 22/3/2021, tại Chi cục thi hành án dân sự huyện T.

- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự có quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định (ngày 27/9/2021). Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết việc dân sự vắng mặt có quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết việc dân sự hoặc kể từ ngày quyết định giải quyết việc dân sự được thông báo, niêm yết. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

Cỡ chữ