- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Bà Nguyễn Thị Thu H yêu cầu tuyên bố ông Ngô Văn Đ mất tích"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị Thu H;
- Căn cứ chính? Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU Số: 16/2020/QĐST-VDS | Vũng Tàu, ngày 25 tháng 11 năm 2020 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v tuyên bố một người mất tích
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán – chủ tọa phiên họp: Bà Nguyễn Trà My.
Thư ký phiên họp: Bà Vũ Thị Lan Hương – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu tham gia phiên họp: Bà Vũ Thị Nhung – Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 11 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 134/2020/TLST-VDS ngày 23 tháng 6 năm 2020 về việc yêu cầu tuyên bố một người mất tích, theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 12/2020/QĐST-VDS ngày 18 tháng 11 năm 2019, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1973, địa chỉ: 345/51/8 Nguyễn Hữu Cảnh, Phường T, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
(Bà H vắng mặt, có đơn xin vắng mặt).
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Theo đơn yêu cầu, bản tự khai người yêu cầu trình bày:
Bà Nguyễn Thị Thu H và ông Ngô Văn Đ đăng ký kết hôn năm 1996. Năm 2013, do bão làm đổ nhà, thất lạc giấy tờ nên bà và ông Đ làm thủ tục đăng ký lại kết hôn. Sau khi kết hôn, bà và ông Đ chung sống hạnh phúc đến năm 2014 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, cách làm ăn kinh tế. Từ tháng 8 năm 2016 đến nay, ông Đ bỏ nhà đi mà không thông báo cho bà, gia đình hay người thân biết việc ông Đ đang làm gì, ở đâu. Cũng trong thời gian này, bà và gia đình đã tìm kiếm nhiều nơi nhưng không ai biết tin tức gì của ông Đ. Vì vậy, bà yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Ngô Văn Đ mất tích để bà bổ sung hồ sơ khởi kiện ly hôn, ngoài ra bà không có yêu cầu nào khác.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu phát biểu ý kiến tại phiên họp:
Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết việc dân sự kể từ khi thụ lý đến khi tiến hành phiên họp Thẩm phán, Thư ký và các đương sự tuân thủ đúng quy định pháp luật về tố tụng dân sự.
Về nội dung: Căn cứ Điều 68 của Bộ luật Dân sự, Điều 389 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của bà H về việc yêu cầu tuyên bố ông Đ mất tích.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đương sự; ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu nhận định:
Về áp dụng pháp luật tố tụng:
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Bà Nguyễn Thị Thu H yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Ngô Văn Đ mất tích nên đây là việc dân sự yêu cầu tuyên bố một người mất tích thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 3 Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Ông Ngô Văn Đ có hộ khẩu thường trú ở ấp Phước Lộc, xã P, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu nhưng đăng ký tạm trú và nơi ở thực tế trước khi ông Đ có tin tức cuối cùng là phường T, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu nên xác định nơi cư trú cuối cùng của ông Đ là thành phố Vũng Tàu. Căn cứ quy định tại điểm a khoản 2 Điều 35 và điểm b khoản 2 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu.
[1.3] Bà Nguyễn Thị Thu H vắng mặt, có đơn đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt. Căn cứ Khoản 2 Điều 367 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án mở phiên họp vắng mặt bà H.
Về áp dụng pháp luật nội dung:
Bà Nguyễn Thị Thu H và ông Ngô Văn Đ có mối quan hệ là vợ chồng, có giấy chứng nhận đăng ký kết hôn . Do đó, bà H có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Đ mất tích theo quy định tại khoản 1 Điều 387 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Xét yêu cầu của người yêu cầu:
Bà H trình bày: Bà và ông Đ đăng ký kết hôn năm 1996, sau khi kết hôn, vợ chồng bà cư trú tại địa chỉ 345/51/8 Nguyễn Hữu Cảnh, Phường T, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Từ tháng 8 năm 2016 đến nay, ông Đ bỏ nhà đi mà không thông báo cho bà, gia đình hay người thân biết việc ông Đ đang làm gì, ở đâu. Bà và gia đình đã tìm kiếm nhiều nơi nhưng không ai biết tin tức gì của ông Đ.
Tại địa phương nơi ông Đ đăng ký thường trú là ấp Phước Lộc, xã P, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu và nơi cư trú cuối cùng của ông Đ là Phường T, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xác nhận ông Đ bỏ đi khỏi địa phương từ tháng 8 năm 2016 và không biết hiện nay ông Đ ở đâu.
Sau khi thụ lý vụ việc, Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu ban hành Quyết định số 01/2020/QĐ-TA ngày 13-7-2020 về việc thông báo tìm kiếm một người bị yêu cầu tuyên bố mất tích đối với ông Ngô Văn Đ. Thông báo tìm kiếm này đã được đăng trên các phương tiện thông tin đại chúng là Báo Công lý các số 057 ngày 17-7-2020; số 058 ngày 21-7-2020 và số 059 ngày 24-7-2020; Phát thông báo tại VOV1- Đài tiếng nói Việt Nam vào các ngày 14, 15 và ngày 16-7-2020 theo quy định. Đến nay, đã hết 04 tháng kể từ ngày đăng, phát thông báo lần đầu tiên, Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, Ủy ban nhân dân phường 10 thành phố Vũng Tàu và người yêu cầu không có tin tức gì của ông Ngô Văn Đ. Như vậy, ngày có tin tức cuối cùng của ông Đ được tính từ ngày 01-9-2016 đến nay đã là hơn 03năm 02 tháng; bà H và Tòa án đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định pháp luật về tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc ông Đ làm gì, ở đâu, còn sống hay đã chết. Do đó, việc bà H yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Ngô Văn Đ mất tích là có cơ sở theo quy định tại Điều 68 Bộ luật Dân sự năm 2015 nên cần được chấp nhận.
Về quản lý tài sản của người bị tuyên bố mất tích: Bà H không yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp quản lý tài sản của ông Đ nên Tòa án không xem xét giải quyết.
Về lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Thu H phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 3 Điều 27; điểm a khoản 2 Điều 35; điểm b khoản 2 Điều 39; Điều 371, 372, 388, và Điều 389 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Điều 68 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
1. Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị Thu H;
Tuyên bố: ông Ngô Văn Đ, sinh ngày 17-3-1970; Địa chỉ cư trú cuối cùng trước khi mất tích: 345/51/8 Nguyễn Hữu Cảnh, Phường T, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng mất tích.
2. Lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Thu H phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng lệ phí bà H đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001908 ngày 22-6-2020 của Chi cục Thị hành án dân sự thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Bà H đã nộp đủ lệ phí giải quyết việc dân sự.
3. Người yêu cầu được quyền kháng cáo trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Trường hợp người yêu cầu vắng mặt tại phiên họp thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định đó được thông báo, niêm yết. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu có quyền kháng nghị trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định giải quyết việc dân sự.
| Nơi nhận: - VKSND TP. Vũng Tàu; - Chi cục THADS TP. Vũng Tàu; - Người yêu cầu; - Ủy ban nhân dân Phường 10, thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. - Ủy ban nhân dân xã Phước Hội, huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; - Lưu: Tòa DS; hồ sơ việc dân sự. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP (Đã ký) Nguyễn Trà My |