- Tranh chấp gì? "Diệp Bảo T"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Diệp Bảo T, sinh ngày 09 tháng 7 năm 1991.
- Căn cứ chính? Điều 1 Nghị định số 136/2016/NĐ-CP Sửa đổi, bổ sung một số điều của…; Nghị định số 81/2013/NĐ-CP Quy định chi tiết một số điều và…; Điều 19 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 Trình tự, thủ tục xem xét, quy…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. PHAN RANG - THÁP CHÀM TỈNH NINH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 16/2020/QĐ-TA | P, ngày 26 tháng 10 năm 2020 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính
đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG - THÁP CHÀM,
TỈNH NINH THUẬN
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
1. Thẩm phán: Ông Lê Trần Long
2. Thư ký phiên họp: Bà Châu Nguyễn Đoan Trang
Ngày 26 tháng 10 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 18/QĐ-TA ngày 19 tháng 10 năm 2020 đối với:
Họ và tên: Diệp Bảo T.
Giới tính: Nam.
Sinh ngày 09 tháng 7 năm 1991.
CMND số: 264333716; Ngày cấp: 01-10-2019; Nơi cấp: Công an tỉnh Ninh Thuận; Dân tộc: Hoa; Tôn giáo: Phật giáo; Trình độ văn hoá: 9/12; Nghề nghiệp: Làm thuê.
Nguyên quán: Trung Quốc.
Hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Khu phố 5, phường B, thành phố P, tỉnh Ninh Thuận.
Tiền án: Không.
Tiền sự:
- Ngày 14-02-2018, bị Công an thành phố P xử phạt vi phạm hành chính số tiền 750.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
- Ngày 12-4-2019, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường B, thành phố P ra quyết định số 46/QĐ-UBND áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn với thời hạn là 03 tháng, kể từ ngày 12-4-2019 đến ngày 12-7-2019 về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
Con ông Diệp Bá L (chết) và bà Đặng Thị H.
Vắng mặt tại phiên họp.
Có sự tham gia của:
1. Đại diện Cơ quan đề nghị: Ông Nguyễn Thế Chính - Chức vụ: Trưởng Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận. (có mặt)
2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận: Bà Lê Nguyễn Tường Vy - Kiểm sát viên. (có mặt).
NHẬN THẤY:
Diệp Bảo T là người nghiện ma túy (Heroin), do nhiều lần sử dụng trái phép chất ma túy nên ngày 12-4-2019, Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường B, thành phố P ra Quyết định số 46/QĐ-UBND áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn đối với Diệp Bảo T với thời hạn là 03 tháng, kể từ ngày 12-4-2019. Đến ngày 12-7-2019, Diệp Bảo T chấp hành xong thời hạn giáo dục tại xã, phường, thị trấn.
Ngày 22-9-2020, Diệp Bảo T lại tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy, bị Công an phường B, thành phố P phát hiện và lập biên bản vi phạm hành chính ngày 23-9-2020 về hành vi nêu trên.
Ngày 07-10-2020, Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường B ra các Quyết định số 198/QĐ-UBND về việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Diệp Bảo T và Quyết định số 197/QĐ-UBND về việc giao cho gia đình quản lý người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời gian làm thủ tục đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Ngày 09-10-2020, Phòng Tư pháp thành phố P ban hành Thông báo số 21/TB-TP xác định: Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa Diệp Bảo T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đảm bảo tính pháp lý, đúng đối tượng, thẩm quyền, thời hiệu, trình tự, thủ tục.
Ngày 09-10-2020, Trưởng Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố Phan Rang - Tháp Chàm ban hành Văn bản số 351/PLĐTBXH, đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm xem xét, áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Diệp Bảo T với thời gian là 24 tháng.
Tại bản tường trình, bản tự khai và biên bản lấy lời khai đều cùng ngày 23-9-2020, Diệp Bảo T thừa nhận vào ngày 22-9-2020 bản thân có sử dụng ma túy (heroin) tại nhà của T thuộc khu phố 5, phường B, thành phố P, tỉnh Ninh Thuận.
Tại phiên họp:
Người đại diện của Cơ quan đề nghị, ông Nguyễn Thế Chính trình bày: Căn cứ vào hành vi vi phạm của Diệp Bảo T, cùng với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ. Nhận thấy, Diệp Bảo T đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại phường nhưng không cai nghiện được và tiếp tục có hành vi vi phạm, sử dụng trái phép chất ma túy. Do đó, tại Văn bản số 351/PLĐTBXH cũng như tại phiên họp hôm nay, Trưởng Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố Phan Rang - Tháp Chàm vẫn giữ nguyên mức đề nghị. Đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm xem xét, áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa Diệp Bảo T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời gian là 24 tháng.
Người bị đề nghị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là Diệp Bảo T: Vắng mặt tại phiên họp không có lý do.
Ý kiến của Kiểm sát viên:
- Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật trong việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc kể từ khi thụ lý hồ sơ cho đến trước thời điểm Thẩm phán công bố quyết định đã tuân thủ theo đúng quy định của Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20-01-2014 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án. Hồ sơ đề nghị của cơ quan đề nghị đảm bảo tính pháp lý.
- Về nội dung: Hồ sơ đề nghị đảm bảo tính pháp lý, Kiểm sát viên thống nhất với ý kiến của Trưởng Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố Phan Rang - Tháp Chàm. Đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm chấp nhận đề nghị của Trưởng Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố Phan Rang - Tháp Chàm áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa Diệp Bảo T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời gian là 24 tháng.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên họp; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Người đại diện Cơ quan đề nghị và Kiểm sát viên.
XÉT THẤY:
Về thủ tục tố tụng:
Về thẩm quyền và trình tự, thủ tục lập hồ sơ:
Ngày 12-4-2019, Diệp Bảo T bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường B, thành phố P ra Quyết định số 46/QĐ-UBND áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn đối với Diệp Bảo T với thời hạn là 03 tháng, kể từ ngày 12-4-2019. Sau khi chấp hành xong, Diệp Bảo T không chịu cai nghiện mà lại tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy. Ngày 22-9-2020, T có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, ngày 23-9-2020, Công an phường B phát hiện và lập biên bản vi phạm hành chính về hành vi nêu trên. Kết quả xét nghiệm tại Trung tâm y tế thành phố P kết luận: Diệp Bảo T dương tính với Heroin. Vì vậy, ngày 07-10-2020, Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường B ra Quyết định số 198/QĐ-UBND về việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Diệp Bảo T là đúng đối tượng và có căn cứ.
Hồ sơ được Phòng Tư pháp thành phố P kiểm tra, đảm bảo tính pháp lý. Sau đó, Trưởng Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố Phan Rang
- Tháp Chàm có văn bản đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm xem xét, áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Diệp Bảo T. Do đó, hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa Diệp Bảo T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là đúng thẩm quyền và đúng trình tự, thủ tục; phù hợp với các Điều 95, 96, 103, 104 của Luật xử lý vi phạm hành chính và Điều 1 của Nghị định số 136/2016/NĐ-CP ngày 09-9-2016 của Chính phủ.
Về thời hiệu áp dụng biện pháp xử lý hành chính: Ngày 22-9-2020, Diệp Bảo T thực hiện hành vi sử dụng trái phép chất ma túy lần cuối bị phát hiện và Công an phường B lập biên bản vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Tính đến ngày 26-10-2020, là ngày Tòa án công bố Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa Diệp Bảo T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thì thời hiệu vẫn còn, được quy định tại điểm d khoản 2 Điều 6 của Luật xử lý vi phạm hành chính.
Về sự vắng mặt của người bị đề nghị: Người bị đề nghị Diệp Bảo T vắng mặt tại phiên họp không có lý do. Căn cứ vào Điều 19 của Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20-01-2014 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính, Tòa án tiến hành phiên họp giải quyết vắng mặt Diệp Bảo T.
Về nội dung: Diệp Bảo T là người đã thành niên, có nơi cư trú ổn định, nhận thức được hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện, đã bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường B áp dụng biện pháp giáo dục tại phường do nghiện ma túy nhưng không chịu cai nghiện, mà vẫn tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy. Căn cứ khoản 2 Điều 7, Điều 95, khoản 1 Điều 96 của Luật xử lý vi phạm hành chính và khoản 1 Điều 1 của Nghị định số 136/2016/NĐ-CP ngày 09-9-2016 của Chính phủ, thì Diệp Bảo T thuộc đối tượng bị đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Diệp Bảo T là nghiêm trọng, không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của chính bản thân, mà còn xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất ma túy, cũng như ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an tại địa phương.
Từ những phân tích nêu trên, thấy rằng cần thiết phải áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa Diệp Bảo T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc một thời gian để Diệp Bảo T cai nghiện, tạo điều kiện để T chữa bệnh, học nghề và lao động nhằm giúp T khi trở về tái hòa nhập với cộng đồng trở thành công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội. Xét đề nghị của Trưởng Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố Phan Rang - Tháp Chàm và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm về việc đưa Diệp Bảo T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời gian 24 tháng là hoàn toàn có căn cứ, phù hợp pháp luật nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Diệp Bảo T, sinh ngày 09 tháng 7 năm 1991.
2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 24 (hai mươi bốn) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.
3. Người bị đề nghị có quyền khiếu nại, Trưởng Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố Phan Rang - Tháp Chàm có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm có quyền kháng nghị đối với Quyết định này trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Cơ quan thi hành quyết định: Công an thành phố Phan Rang - Tháp Chàm chủ trì, phối hợp với Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố Phan Rang - Tháp Chàm để đưa Diệp Bảo T vào Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Ninh Thuận, tại địa chỉ: Thôn T, xã L, huyện N, tỉnh Ninh Thuận. Nơi nhận:
THẨM PHÁN
- TAND tỉnh Ninh Thuận;
- VKSND TP. PR-TC;
- Công an TP. PR-TC;
- Phòng LĐTB và XH TP. PR-TC;
- Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Ninh Thuận;
- UBND phường B;
- Người bị đề nghị Diệp Bảo T;
- Lưu hồ sơ.
Lê Trần Long
(6) Đánh giá, phân tích của Thẩm phán về tính hợp pháp của hồ sơ đề nghị; đánh giá về tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi vi phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân, mức độ nhận thức của người bị đề nghị áp dụng; về ý kiến của người tham gia phiên họp; lý do, căn cứ và sự cần thiết áp dụng biện pháp xử lý hành chính đối với người bị đề nghị. Đối tượng bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc là người thực hiện hành vi xâm phạm tài sản của tổ chức trong nước hoặc nước ngoài; tài sản, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm của công dân, của người nước ngoài; vi phạm trật tự, an toàn xã hội 02 lần trở lên trong 06 tháng nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn hoặc chưa bị áp dụng biện pháp này nhưng không có nơi cư trú ổn định. 15. Người không có năng lực trách nhiệm hành chính là người thực hiện hành vi vi phạm hành chính trong khi đang mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình. 2. Thời hiệu áp dụng biện pháp xử lý hành chính được quy định như sau: a) Thời hiệu áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn là 01 năm, kể từ ngày cá nhân thực hiện hành vi vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 90; 06 tháng, kể từ ngày cá nhân thực hiện hành vi vi phạm quy định tại khoản 2 Điều 90 hoặc kể từ ngày cá nhân thực hiện lần cuối một trong những hành vi vi phạm quy định tại khoản 3 và khoản 5 Điều 90; 03 tháng, kể từ ngày cá nhân thực hiện hành vi vi phạm quy định tại khoản 4 Điều 90 của Luật này; b) Thời hiệu áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng là 01 năm, kể từ ngày cá nhân thực hiện hành vi vi phạm quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 92; 06 tháng, kể từ ngày cá nhân thực hiện hành vi vi phạm quy định tại khoản 3 Điều 92 hoặc kể từ ngày cá nhân thực hiện lần cuối một trong những hành vi vi phạm quy định tại khoản 4 Điều 92 của Luật này; c) Thời hiệu áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc là 01 năm, kể từ ngày cá nhân thực hiện lần cuối một trong các hành vi vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 94 của Luật này; d) Thời hiệu áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là 03 tháng, kể từ ngày cá nhân thực hiện lần cuối hành vi vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 96 của Luật này. Điều 7. Thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính 1. Cá nhân, tổ chức bị xử phạt vi phạm hành chính, nếu trong thời hạn 06 tháng, kể từ ngày chấp hành xong quyết định xử phạt cảnh cáo hoặc 01 năm, kể từ ngày chấp hành xong quyết định xử phạt hành chính khác hoặc từ ngày hết thời hiệu thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính mà không tái phạm thì được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính. 2. Cá nhân bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính, nếu trong thời hạn 02 năm, kể từ ngày chấp hành xong quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính hoặc 01 năm kể từ ngày hết thời hiệu thi hành quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính mà không tái phạm thì được coi là chưa bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính. Điều 8. Cách tính thời gian, thời hạn, thời hiệu trong xử lý vi phạm hành chính 1. Cách tính thời hạn, thời hiệu trong xử lý vi phạm hành chính được áp dụng theo quy định của Bộ luật dân sự, trừ trường hợp trong Luật này có quy định cụ thể thời gian theo ngày làm việc. 2. Thời gian ban đêm được tính từ 22 giờ ngày hôm trước đến 06 giờ ngày hôm sau. Điều 93. Biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc 1. Đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc là biện pháp xử lý hành chính áp dụng đối với người có hành vi vi phạm pháp luật quy định tại Điều 94 của Luật này để lao động, học văn hoá, học nghề, sinh hoạt dưới sự quản lý của cơ sở giáo dục bắt buộc. 2. Thời hạn áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc từ 06 tháng đến 24 tháng. Điều 94. Đối tượng áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc 1. Đối tượng bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc là người thực hiện hành vi xâm phạm tài sản của tổ chức trong nước hoặc nước ngoài; tài sản, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm của công dân, của người nước ngoài; vi phạm trật tự, an toàn xã hội 02 lần trở lên trong 06 tháng nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn hoặc chưa bị áp dụng biện pháp này nhưng không có nơi cư trú ổn định. 2. Không áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc đối với các trường hợp sau đây: a) Người không có năng lực trách nhiệm hành chính; b) Người chưa đủ 18 tuổi; c) Nữ trên 55 tuổi, nam trên 60 tuổi; d) Người đang mang thai có chứng nhận của bệnh viện; đ) Phụ nữ hoặc người duy nhất đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi được Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú xác nhận. Điều 101. Lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc 1. Việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc đối với đối tượng quy định tại Điều 94 của Luật này được thực hiện như sau: a) Đối với người vi phạm có nơi cư trú ổn định thì Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc. Hồ sơ đề nghị gồm có bản tóm tắt lý lịch; tài liệu về các hành vi vi phạm pháp luật của người đó; biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn đã áp dụng; bản tường trình của người vi phạm hoặc của người đại diện hợp pháp của họ và các tài liệu khác có liên quan; b) Đối với người không cư trú tại nơi có hành vi vi phạm pháp luật thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã phải xác minh; trường hợp xác định được nơi cư trú thì có trách nhiệm chuyển người đó kèm theo biên bản vi phạm về địa phương để xử lý; trường hợp không xác định được nơi cư trú của người đó thì lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc. Hồ sơ đề nghị gồm có biên bản vi phạm; bản tóm tắt lý lịch; tài liệu về các hành vi vi phạm pháp luật của người đó; bản trích lục tiền án, tiền sự; biện pháp giáo dục đã áp dụng (nếu có); bản tường trình của người vi phạm hoặc của người đại diện hợp pháp của họ; c) Công an cấp xã có trách nhiệm giúp Chủ tịch Ủy ban nhân dân cùng cấp thu thập các tài liệu và lập hồ sơ đề nghị quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều này. 2. Trường hợp người vi phạm do cơ quan Công an cấp huyện hoặc Công an cấp tỉnh trực tiếp phát hiện, điều tra, thụ lý trong các vụ vi phạm pháp luật, nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự mà thuộc đối tượng đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc theo quy định tại Điều 94 của Luật này thì cơ quan Công an đang thụ lý vụ việc tiến hành xác minh, thu thập tài liệu và lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc đối với người đó. Hồ sơ đề nghị gồm có bản tóm tắt lý lịch; tài liệu về các hành vi vi phạm pháp luật của người đó; biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn đã áp dụng; bản tường trình của người vi phạm hoặc của người đại diện hợp pháp của họ. 3. Sau khi hoàn thành việc lập hồ sơ đề nghị quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này, cơ quan đã lập hồ sơ phải thông báo cho người bị đề nghị áp dụng hoặc người đại diện của họ về việc lập hồ sơ. Những người này được quyền đọc hồ sơ và ghi chép các nội dung cần thiết trong thời hạn 05 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo. Sau khi người bị áp dụng hoặc người đại diện của họ đọc xong hồ sơ thì hồ sơ được gửi cho Trưởng phòng Tư pháp cấp huyện. Trong thời hạn 05 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ, Trưởng phòng Tư pháp cấp huyện có trách nhiệm kiểm tra tính pháp lý của hồ sơ và chuyển Trưởng Công an cùng cấp. Điều 16. Lập hồ sơ áp dụng biện pháp xử lý hành chính (Nghị định 81/2013/NĐ-CP) 1. Việc lập hồ sơ áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn đối với đối tượng thực hiện hành vi vi phạm quy định tại Khoản 3, Khoản 5 Điều 90 Luật xử lý vi phạm hành chính khi đối tượng đã ít nhất hai lần bị xử phạt vi phạm hành chính về các hành vi vi phạm đó trong 06 tháng. 2. Việc lập hồ sơ áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc đối với đối tượng thực hiện hành vi vi phạm quy định tại Khoản 4 Điều 92, Khoản 1 Điều 94 Luật xử lý vi phạm hành chính khi đối tượng đó đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn và đã ít nhất hai lần bị xử phạt vi phạm hành chính về các hành vi vi phạm đó trong 06 tháng. 3. Việc lập hồ sơ áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc không áp dụng đối với người đang tham gia các chương trình cai nghiện ma túy tại cộng đồng theo quy định của pháp luật về phòng, chống ma túy. Điều 17. Thông báo về việc lập hồ sơ và kiểm tra tính pháp lý của hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính 1. Sau khi hoàn thành việc lập hồ sơ đề nghị quy định tại Khoản 4 Điều 97, Khoản 3 Điều 99, Khoản 3 Điều 101 và Khoản 3 Điều 103 Luật xử lý vi phạm hành chính, trong thời hạn 03 ngày làm việc, cơ quan đã lập hồ sơ phải thông báo bằng văn bản cho người bị áp dụng hoặc cha, mẹ hoặc người giám hộ của người chưa thành niên về việc lập hồ sơ. Văn bản thông báo phải nêu rõ biện pháp xử lý hành chính áp dụng trong hồ sơ đề nghị, quyền được đọc, ghi chép và sao chụp những nội dung cần thiết trong hồ sơ của người nhận được thông báo. 2. Việc kiểm tra tính pháp lý của hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính quy định tại Khoản 1 Điều này do Công chức tư pháp - hộ tịch cấp xã, Trưởng phòng tư pháp cấp huyện thực hiện phải bảo đảm sự phù hợp, đầy đủ theo quy định của pháp luật xử lý vi phạm hành chính đối với các vấn đề sau: a) Các tài liệu, giấy tờ trong hồ sơ đề nghị theo quy định tại Khoản 3 Điều 97; Khoản 1, khoản 2 Điều 99; Khoản 1, khoản 2 Điều 101; Khoản 1, Khoản 2 Điều 103 Luật xử lý vi phạm hành chính; b) Thời hiệu áp dụng biện pháp xử lý hành chính quy định tại Khoản 2 Điều 6 Luật xử lý vi phạm hành chính; đối tượng bị áp dụng các biện pháp xử lý hành chính quy định tại Điều 90, Điều 92, Điều 94 và Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính; c) Thẩm quyền lập hồ sơ đề nghị; trình tự, thủ tục lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính theo quy định. 3. Văn bản kiểm tra tính pháp lý phải có chữ ký của người có thẩm quyền kiểm tra và được đóng dấu; đối với cấp xã phải có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã. Văn bản kiểm tra tính pháp lý được gửi kèm hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính. Điều 18. Trách nhiệm của người có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính khi thi hành công vụ 1. Khi tiến hành xử phạt vi phạm hành chính hoặc xem xét quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính, người có thẩm quyền phải: a) Có lệnh thi hành công vụ, mặc trang phục, sắc phục, phù hiệu của ngành theo quy định; b) Xử lý kịp thời, đúng tính chất, mức độ vi phạm, đúng quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính, điều lệnh, điều lệ, quy chế của từng ngành; c) Có thái độ hòa nhã, nghiêm túc, không gây phiền hà, sách nhiễu, đòi, nhận tiền, tài sản khác của người vi phạm hoặc dung túng, bao che người vi phạm; không được vi phạm các điều cấm. 2. Người có hành vi vi phạm quy định tại Khoản 1 Điều này hoặc vi phạm quy định về những hành vi bị nghiêm cấm tại Điều 12 Luật xử lý vi phạm hành chính hoặc vi phạm quy định khác của pháp luật, thì tùytheo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại phải bồi hoàn theo quy định của pháp luật về trách nhiệm bồi thường của nhà nước. Điều 107. Gửi quyết định áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc và đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc để thi hành Trong thời hạn 03 ngày, kể từ ngày quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính có hiệu lực, Tòa án nhân dân đã ra quyết định phải gửi cho người bị áp dụng, Trưởng Công an cấp huyện và Trưởng phòng Lao động - Thương binh và Xã hội cấp huyện nơi đã gửi hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú và các cơ quan hữu quan để thi hành theo quy định của pháp luật; quyết định áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng còn được gửi cho cha mẹ hoặc người đại diện hợp pháp của họ.
| Nơi nhận: - Ghi theo quy định tại khoản 1 Điều 24 Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại TAND; - Lưu hồ sơ. Hướng dẫn sử dụng mẫu số 04: chính; cần ghi rõ Toà án nhân dân quận, huyện, thị xã, thành phố gì thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nào (ví dụ: Toà án nhân dân quận N, thành phố C). bắt buộc thì bỏ cụm từ “(không áp dụng)”. sở giáo dục bắt buộc; các ý kiến của đại diện cơ quan đề nghị, Viện kiểm sát, người bị đề nghị tại phiên họp. chất, mức độ, hậu quả của hành vi vi phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân, mức độ nhận thức của người bị đề nghị áp dụng; về ý kiến của người tham gia phiên họp; lý do, căn cứ và sự cần thiết áp dụng biện pháp xử lý hành chính đối với người bị đề nghị. lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc thì bỏ điểm 2 và điểm 5 phần quyết định. tục khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị theo quy định tại các điều 30, 31 và 32 của Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Toà án nhân dân. | THẨM PHÁN (1) và (3) Ghi tên Toà án có thẩm quyền xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành (2) Trường hợp Toà án quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục (4) Ghi địa điểm Toà án tiến hành mở phiên họp (ví dụ: tại trụ sở Toà án nhân dân quận N, thành phố C). (5) Ghi tóm tắt hành vi vi phạm của người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ (6) Đánh giá, phân tích của Thẩm phán về tính hợp pháp của hồ sơ đề nghị; đánh giá về tính (7) và (9) Trường hợp Toà án quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc thì có điểm 2 và điểm 5 phần quyết định; trường hợp Toà án quyết định không áp dụng biện pháp xử (8) Ghi quyền khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị, thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị và thủ |