- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án kinh doanh thương mại — "Ngân hàng CT khởi kiện DNTN NNP về Tranh chấp hợp đồng tín dụng"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận Kháng nghị số 04/QĐKNTT-VKS-KDTM ngày 07/4/2020 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Căn cứ chính? Điều 349 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 356 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 357 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Quyết định tái thẩm | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 16/2020/KDTM-TT Ngày: 25/5/2020 V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
ỦY BAN THẨM PHÁN TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Văn Cường.
Các thẩm phán: Ông Phan Thanh Tùng.
Ông Đặng Văn Thành.
Thư ký phiên tòa: Ông Trịnh Xuân Luyến- Thẩm tra viên Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Tuyết – Kiểm sát viên.
Ngày 25/5/2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đã mở phiên tòa tái thẩm vụ án kinh doanh, thương mại về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng CT.
Địa chỉ: 01 NT, Phường X, Quận V, Thành phố H.
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thị Y- theo văn bản ủy quyền số 370/UQ-HĐQT-NHCT18 ngày 12/4/2013.
2. Bị đơn: DNTN NNP- Chủ DNTN bà Nguyễn Ngọc KP.
Địa chỉ: 20/21B Phan L, Phường X, Quận T, Thành phố H.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Cụ Nguyễn Thị T.
Địa chỉ: 20/21B Phan L, Phường X, Quận T, Thành phố H.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Nguyên đơn Ngân hàng CT trình bày: Tính đến ngày 09/8/2013, DNTN NNP còn nợ Ngân hàng CT tổng số tiền nợ là 13.028.645.833 đồng, theo Hợp đồng tín dụng số 11052087/HĐTDHM ngày 20/10/2012 giữa Ngân hàng CT và DNTN NNP. Trong đó, nợ gốc 12.500.000.000 đồng, lãi trong hạn 451.562.500 đồng, lãi quá hạn 77.083.333 đồng.
DNTN NNP phải trả cho Ngân hàng CT toàn bộ số tiền trên làm một lần ngay sau 4 tháng kể từ ngày 09/8/2013 (nghĩa là ngay sau ngày 09/12/2013).
Kể từ ngày 09/8/2013, đến thời điểm trả hết nợ thì DNTN NNP vẫn phải chịu lãi theo quy định của hợp đồng nói trên.
Ngay sau ngày 9/12/2013, mà DNTN NNP không trả hoặc trả không hết số tiền trên (bao gồm tổng số tiền tính đến ngày 09/8/2013 và các khoản lãi tính từ 09/8/2013 đến hết ngày 09/12/2013) thì Ngân hàng CT có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền đưa căn nhà, quyền sử dụng đất và các giấy tờ có liên quan căn nhà và đất số 20/21B Phan L, Phường X, Quận T, Thành phố H ra phát mãi theo quy định của pháp luật để thu hồi nợ cho Ngân hàng.
Trường hợp số tiền phát mãi lớn hơn số tiền phải trả cho Ngân hàng thì sau khi thanh toán số tiền còn dư được trả lại cho cụ Nguyễn Thị T và bà Nguyễn Ngọc KP. Nếu số tiền thu được do phát mãi ít hơn số tiền mà DNTN NNP phải trả cho Ngân hàng CT thì DNTN NNP phải tiếp tục trả phần nợ còn lại cho Ngân hàng theo quy định của hợp đồng.
Bị đơn bà Nguyễn Ngọc KP- Chủ DNTN NNP trình bày:
Đồng ý với ý kiến của Ngân hàng CT.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cụ Nguyễn Thị T trình bày:
Cụ đồng ý, nếu DNTN NNP không trả được nợ thì cụ đồng ý bán căn nhà và đất số 20/21B Phan L, Phường X, Quận T, Thành phố H để trả nợ cho Ngân hàng.
Nếu đến ngày 09/12/2013, mà DNTN NNP không trả hoặc trả không hết nợ thì lãi vẫn phát sinh theo quy định của hợp đồng.
Tại Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 55/2013/QĐST-KDTM ngày 19/8/2013, Tòa án nhân dân Quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh quyết định:
Tính đến ngày 9/8/2013, DNTN NNP còn nợ Ngân hàng CT tổng số tiền nợ là 13.028.645.833 đồng (mười ba tỷ hai mươi tám triệu sáu trăm bốn năm nghìn tám trăm ba mươi ba đồng) theo Hợp đồng tín dụng số 11052087/HĐTDHM ngày 20/10/2012 giữa Ngân hàng CT và DNTN NNP. Trong đó, nợ gốc 12.500.000.000 đồng, lãi trong hạn 451.562.500 đồng, lãi quá hạn 77.083.333 đồng.
DNTN NNP phải trả cho Ngân hàng CT toàn bộ số tiền trên làm một lần ngay sau 4 tháng kể từ ngày 09/8/2013.
Kể từ ngày 09/8/2013, đến thời điểm trả hết nợ thì DNTN NNP vẫn bị tính lãi theo quy định của hợp đồng nói trên và pháp luật hiện hành.
Ngay sau ngày 9/12/2013, mà DNTN NNP không trả hoặc trả không hết số tiền trên (bao gồm tổng số tiền tính đến ngày 09/8/2013 và các khoản lãi tính từ 09/8/2013 đến hết ngày 09/12/2013) thì Ngân hàng CT có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền đưa căn nhà, quyền sử dụng đất và các giấy tờ có liên quan căn nhà và đất số 20/21B Phan L, Phường X, Quận T, Thành phố H ra phát mãi theo quy định của pháp luật để thu hồi nợ cho Ngân hàng.
Trường hợp số tiền phát mãi lớn hơn số tiền phải trả cho Ngân hàng thì sau khi thanh toán số tiền còn dư được trả lại cho cụ Nguyễn Thị T và bà Nguyễn Ngọc KP. Nếu số tiền thu được do phát mãi ít hơn số tiền mà DNTN NNP phải trả cho Ngân hàng CT thì DNTN NNP phải tiếp tục trả phần nợ còn lại cho Ngân hàng theo quy định của hợp đồng và pháp luật hiện hành.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí.
Ngày 09/01/2020, cụ Nguyễn Thị T và các ông bà Nguyễn Ngọc KP, Võ Thị L, Võ Thị K, Võ Minh N, Định Văn H, Bùi Tấn P, Huỳnh Sơn V cùng có đơn đề nghị kháng nghị tái thẩm đối với Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự nêu trên.
Tại Quyết định số 04/QĐKNTT-VKS-KDTM ngày 07/4/2020, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh kháng nghị tái thẩm đối với Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự nêu trên, đề nghị Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử tái thẩm huỷ toàn bộ Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự nêu trên; giao hồ sơ cho Tòa án nhân dân Quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh để giải quyết sơ thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Ủy ban thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
. Ngày 13/5/2005, cụ Nguyễn Thị T và bà Nguyễn Ngọc KP làm văn bản khai nhận thừa kế tài sản do cụ Nguyễn Ngọc P chết để lại. Văn bản khai nhận thừa kế được Văn phòng công chứng số 5, Thành phố Hồ Chí Minh chứng thực ngày 13/5/2005. Ngày 03/8/2005, cụ T và bà P được Trung tâm thông tin tài nguyên môi trường và đăng ký nhà đất- Sở tài nguyên và môi trường Thành phố Hồ Chí Minh đăng ký biến động là đồng sở hữu căn nhà và đất tại số 20/21B Phan L, Phường X, Quận T, Thành phố H.
. Ngày 20/10/2012, DNTN NNP- Do bà Nguyễn Ngọc KP là chủ Doanh nghiệp ký hợp đồng tín dụng vay của Ngân hàng CT- Chi nhánh 9, Thành phố H số tiền 12.500.000.000 đồng. Để đảm bảo cho khoản vay trên, cụ Nguyễn Thị T và bà Nguyễn Ngọc KP có ký hợp đồng thế chấp căn nhà và đất tại số 20/21B Phan L, Phường X, Quận T, Thành phố H để đảm bảo cho khoản vay của DNTN NNP. Hợp đồng thế chấp được công chứng chứng thực và đăng ký giao dịch đảm bảo đúng quy định của pháp luật.
. Do DNTN NNP không trả nợ được cho Ngân hàng CT nên Ngân hàng CT khởi kiện yêu cầu DNTN NNP trả nợ. Quá trình giải quyết vụ án, các đương sự đã thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án, do đó Tòa án Quận Bình Thạnh đã lập biên bản hòa giải thành và ban hành Quyết định công nhận sự thỏa thuận số 55/2013/QĐST-KDTM ngày 19/8/2013 là đúng quy định của pháp luật. Cụ T và bà P đồng ý, nếu DNTN NNP không trả được nợ cho Ngân hàng CT thì đồng ý phát mãi tài sản thế chấp để trả nợ cho Ngân hàng.
. Quá trình thi hành Quyết định công nhận sự thỏa thuận nêu trên, Chi cục Thi hành án dân sự Quận Bình Thạnh tiến hành các thủ tục kê biên, bán đấu giá tài sản thế chấp để thu hồi nợ nhưng cụ Nguyễn Thị T, các ông bà Nguyễn Ngọc KP, Võ Thị Kim L, Võ Thị Kim K, Võ Minh N, Định Văn H, Bùi Tấn P, Huỳnh Sơn V không có khiếu nại, không tranh chấp về quyền sở hữu tài sản đối với căn nhà và đất tại số 20/21B Phan L, Phường X, Quận T, Thành phố H. Cụ T và các ông bà Nguyễn Ngọc KP, Võ Thị Kim Liên, Võ Thị Kim Khuyên, Võ Minh Nguyện, Định Văn Nhập, Bùi Tấn Phương, Huỳnh Sơn Vũ Võ Thị Kim L, Võ Thị Kim K, Võ Minh N, Định Văn H, Bùi Tấn P, Huỳnh Sơn V chỉ khiếu nại về việc bán đấu giá tài sản không đúng quy định nên cụ T và các ông bà Nguyễn Ngọc KP, Võ Thị Kim L, Võ Thị Kim K, Võ Minh N, Định Văn H, Bùi Tấn P, Huỳnh Sơn V đã làm đơn đề nghị tái thẩm đối với quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự nêu trên. Điều này được thể hiện trong đơn đề nghị kháng nghị tái thẩm ngày 09/01/2020 của cụ T và các ông bà Nguyễn Ngọc KP, Võ Thị Kim L, Võ Thị Kim K, Võ Minh N, Định Văn H, Bùi Tấn P, Huỳnh Sơn V.
. Mặt khác, khoản 1 Điều 352 Bộ luật tố tụng dân sự quy định căn cứ để tái thẩm như sau: Mới phát hiện được tình tiết quan trọng của vụ án mà đương sự đã không thể biết được trong quá trình giải quyết vụ án. Theo quy định nêu trên, cụ T và các ông bà Nguyễn Ngọc KP, Võ Thị Kim L, Võ Thị Kim K, Võ Minh N, Định Văn H, Bùi Tấn P, Huỳnh Sơn V không đưa ra được tình tiết mới nào mà các đương sự không biết trong quá trình giải quyết vụ án; cụ các ông bà Nguyễn Ngọc KP, Võ Thị Kim L, Võ Thị Kim K, Võ Minh N, Định Văn H, Bùi Tấn P, Huỳnh Sơn V chỉ khiếu nại về quá trình tổ chức bán đấu giá tài sản không đúng quy định của pháp luật.
. Căn cứ vào giấy khai sinh, sổ hộ khẩu do Công an Quận Bình Thạnh xác nhận và lời trình bày của bà L cho rằng: Bà L sống cùng mẹ và dượng Phước từ năm 1990 cho đến nay, để cho rằng bà L có công chăm sóc, nuôi dưỡng cụ P và cụ T nên có quyền được hưởng thừa kế tài sản của cụ P theo quy định tại Điều 679 Bộ luật dân sự năm 2005, thấy rằng: Tại Văn bản khai nhận di sản thừa kế ngày 13/5/2005, cụ T đã cam kết:
Đã khai đúng sự thật về hộ tịch, không bỏ sót người được thừa kế theo quy định của pháp luật.
Di sản nêu trên không bị tranh chấp, không được dùng để đảm bảo một nghĩa vụ nào khác.
Do đó, không có căn cứ chứng minh bà L có công chăm sóc, nuôi dưỡng cụ P.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 349, Điều 356 và Điều 357 Bộ Luật tố tụng dân sự.
1. Không chấp nhận Kháng nghị số 04/QĐKNTT-VKS-KDTM ngày 07/4/2020 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
2. Giữ nguyên Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 55/2013/QĐST-KDTM ngày 19/8/2013 của Tòa án nhân dân Quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh giữa nguyên đơn là Ngân hàng CT với bị đơn là DNTN NNP- Chủ DNTN bà Nguyễn Ngọc KP.
3. Quyết định tái thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định.
| Nơi nhận: - Đ/c Chánh án (để báo cáo); - Vụ pháp chế và quản lý khoa học; - VKSNDCC tại TP.HCM; - TAND Thành phố Hồ Chí Minh; - TAND Quận Bình Thạnh, TP. Hồ Chí Minh; - Chi cục THADS Quận Bình Thạnh; - Các đương sự theo địa chỉ; - Lưu: Phòng GĐKTII, Phòng LTHS, HS, THS. | TM.ỦY BAN THẨM PHÁN THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Văn Cường |