vanban.org

Quyết định 16/2019/QĐST-VDS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích

TAND TP. Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình Tuyên án 24/07/2019 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn yêu cầu của anh Nguyễn Minh T tuyên bố chị Nguyễn Thị Q mất tích.

Tuyên bố: Chị Nguyễn Thị Q, sinh ngày 17 tháng 06 năm 1984; ĐKNKTT và nơi cư trú cuối cùng: Số 27 H, Tổ dân phố 9, phường L, thành phố H, tỉnh Quảng Bình đã mất tích từ năm 2011. Lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm: Anh Nguyễn Minh T phải chịu 300.000 đồng để sung quỹ Nhà nước. Số tiền lệ phí anh … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Quyết định sơ thẩm giải quyết việc dân sự"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu của anh Nguyễn Minh T tuyên bố chị Nguyễn Thị Q mất tích.
  • Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ ĐỒNG HỚI
TỈNH QUẢNG BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 16 /2019/QĐST- VDSĐồng Hới, ngày 24 tháng 7 năm 2019

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

Về việc: Yêu cầu tuyên bố một người mất tích

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG HỚI, TỈNH QUẢNG BÌNH

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên họp: Bà Nguyễn Thanh Hoa

Thư ký phiên họp: Ông Dương Đức Hải – Thư ký TAND thành phố Đồng Hới.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Hới tham gia phiên họp: Bà Võ Thị Hoàng Mai – Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 7 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 03/2019/ TLST –VDS ngày 02 tháng 01 năm 2019 về việc: “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 75/2019/QĐST-VDS ngày 15 tháng 7 năm 2019, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:

1. Anh Nguyễn Minh T, sinh năm 1979.

ĐKNKTT: Số 27 H, nhóm 1, Tổ dân phố 9, phường L, thành phố H, tỉnh Quảng Bình. Anh T vắng mặt, có đơn xin vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Chị Nguyễn Thị Q, sinh năm 1984.

ĐKNKTT và nơi cư trú cuối cùng: Số 27 H, Tổ dân phố 9, phường L, thành phố H, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Trong đơn yêu cầu đề ngày 13 tháng 12 năm 2018, được bổ sung tại bản tự khai người yêu cầu là anh Nguyễn Minh T trình bày: anh Nguyễn Minh T kết hôn có đăng ký hợp pháp với chị Nguyễn Thị Q, sinh năm 1984 vào ngày 02/11/2004 tại UBND phường D, thành phố H, tỉnh Đồng Nai trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn vợ chồng anh chị chung sống và làm việc tại thành phố H, tỉnh Đồng Nai, khoảng đến cuối năm 2005 vợ chồng anh chị về quê anh T sinh sống tại Số 27 H, nhóm 1, Tổ dân phố 9, phường L, thành phố H, tỉnh Quảng Bình cho đến năm 2011 chị Q bỏ nhà đi không báo cho gia đình, gia đình không có tin tức gì của chị Q. Từ khi chị Q bỏ đi anh T và gia đình đã tìm kiếm chị Q qua bạn bè, người thân trong gia đình nhưng không có tin tức gì của chị Q. Nay anh T làm đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố chị Nguyễn Thị Q mất tích.

Tại phiên họp, anh Nguyễn Minh T vắng mặt (có đơn xin giải quyết vắng mặt, đơn đề ngày 20/7/2019) nhưng vẫn giữ nguyên yêu cầu Tòa án giải quyết việc dân sự.

Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát đã phát biểu ý kiến: Quá trình giải quyết việc dân sự, kể từ khi thụ lý đến khi mở phiên họp Thẩm phán, Thư ký và người yêu cầu đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đề nghị Tòa án căn cứ Điều 68 Bộ luật Dân sự và đề nghị căn cứ các Điều 387, 388 và Điều 389 của Bộ luật Tố tụng dân sự để chấp nhận yêu cầu của anh Nguyễn Minh T tuyên bố chị Nguyễn Thị Q mất tích.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đương sự tại đơn yêu cầu và bản tự khai và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới nhận định:

Về áp dụng pháp luật tố tụng: Anh Nguyễn Minh T có đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố chị Nguyễn Thị Q, sinh ngày 17 tháng 6 năm 1984, ĐKNKTT và nơi cư trú cuối cùng: Số 27 H, Tổ dân phố 9, phường L, thành phố H, tỉnh Quảng Bình mất tích. Do đó, quan hệ pháp luật của việc dân sự được xác định là “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích” và Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình có thẩm quyền thụ lý, giải quyết theo quy định tại Điều 27, khoản 2 Điều 35; khoản 2 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung yêu cầu giải quyết: Ngày 13 tháng 12 năm 2018 anh Nguyễn Minh T có đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố chị Nguyễn Thị Q, sinh ngày 17 tháng 6 năm 1984 mất tích. Ngày 18/01/2019 Tòa án nhân dân thành phố H đã ra Quyết định số 01/2019/QĐTB-VDS Thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích để thông báo tìm kiếm tin tức của chị Nguyễn Thị Q trên các phương tiện thông tin đại chúng. Anh Nguyễn Minh T đã làm đủ thủ tục nhắn tin theo đúng quy định của pháp luật. Cụ thể là nhắn tin trên Báo Công lý ba số liên tiếp 21, 22, 23 ra các ngày 13, 15, 20 tháng 3 năm 2019; nhắn tin trên Đài tiếng nói Việt Nam vào lúc 17 giờ 30 phút ngày 21, 22, 23 tháng 3 năm 2019 và trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án, thời hạn nhắn tin tìm kiếm là 04 tháng nhưng từ khi nhắn tin tìm kiếm đến nay vẫn không xác định được tin tức gì của chị Q.

Quá trình giải quyết việc dân sự, Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới đã tiến hành xác minh tại tổ trưởng Tổ dân phố 9, phường L, thành phố H, tỉnh Quảng Bình và Ủy ban nhân dân phường L, thành phố H, tỉnh Quảng Bình nhưng đều cung cấp thông tin là không có tin tức gì của chị Nguyễn Thị Q từ năm 2011 cho đến nay. Thông tin cũng phù hợp với lời khai của anh Nguyễn Đức B là anh trai của chị Q: “em gái tôi kết hôn với anh Nguyễn Minh T, sinh ngày 16/8/1979, đăng ký kết hôn vào ngày 02/11/2004 tại Ủy ban nhân dân phường D, thành phố H, tỉnh Đồng Nai. Từ năm 2004 -2005 vợ chồng sống với nhau được 01 năm tại Đồng Nai. Cuối năm 2005 em gái tôi theo chồng về quê sống tại Tổ dân phố 9 phường L, thành phố H, tỉnh Quảng Bình. Vợ chồng chung sống chưa có con chung. Năm 2011 em gái tôi xin phép chồng và gia đình chồng về quê thăm mẹ 02 lần. Sau khi về quê thăm mẹ vào lại Quảng Bình khoảng 02 tháng sau em gái tôi đã bỏ đi từ đó đến giờ không thấy về. Hiện em gái tôi không có mặt tại địa phương, gia đình không liên lạc được với em.”

Xét thấy: Yêu cầu của anh Nguyễn Minh T về việc yêu cầu tuyên bố chị Nguyễn Thị Q là người mất tích hoàn toàn có căn cứ và phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 68 Bộ luật Dân sự và khoản 3 Điều 27, Điều 387, 388 và Điều 389 Bộ luật Tố tụng dân sự nên cần chấp nhận.

Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Anh Nguyễn Minh T phải chịu nộp lệ phí việc dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 149 của Bộ luật tố tụng dân sự và khoản 1 Điều 37 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.

Các đương sự có quyền kháng cáo quyết định theo quy định tại các Điều 371, 372 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ quy định tại Khoản 1 Điều 68 Bộ luật Dân sự và khoản 3 Điều 27, khoản 1 Điều 370, Điều 387, 388, 389 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 149 của Bộ luật Tố tụng dân sự, khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

1. Chấp nhận đơn yêu cầu của anh Nguyễn Minh T tuyên bố chị Nguyễn Thị Q mất tích.

2. Tuyên bố: Chị Nguyễn Thị Q, sinh ngày 17 tháng 06 năm 1984; ĐKNKTT và nơi cư trú cuối cùng: Số 27 H, Tổ dân phố 9, phường L, thành phố H, tỉnh Quảng Bình đã mất tích từ năm 2011.

3. Lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm: Anh Nguyễn Minh T phải chịu 300.000 đồng để sung quỹ Nhà nước. Số tiền lệ phí anh T phải nộp được khấu trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Đồng Hới theo biên lai số AA/2017/0000845 ngày 02 tháng 01 năm 2019.

4. Người yêu cầu, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên họp có quyền kháng cáo quyết định trong hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ