vanban.org

Quyết định 16/2019/QĐDS-ST — Y/c thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú và quản lý tài sản của người đó

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu “Thông báo tìm kiếm người vắng mặt nơi cư trú” của anh Đỗ Thành N đối với ông Hứa Thái C và bà Nguyễn Thị G.

Tuyên bố ông Hứa Thái C, sinh năm 1970 và bà Nguyễn Thị G, sinh năm 1969 vắng mặt tại nơi cư trú cuối cùng số 24, Hẻm L, khu C, thị trấn L, huyện T, tỉnh Đồng Nai kể từ ngày 01/01/2019 đến nay. Việc quản lý tài sản của người vắng mặt tại nơi cư trú: Không xét. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú và quản lý tài sản của người đó — án dân sự — "Đỗ Thành Nam"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu “Thông báo tìm kiếm người vắng mặt nơi cư trú” của anh Đỗ Thành N đối với ông Hứa Thái C và bà Nguyễn Thị G.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LONG THÀNH
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 16/2019/QĐDS-STLong Thành, ngày 22 tháng 10 năm 2019

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v Yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt nơi cư trú

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Nguyễn Thị Phụng – Thẩm phán.

Thư ký phiên họp: Bà Bùi Thị Bích Hồng - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Long Thành.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành tham gia phiên họp: Ông Nguyễn Văn Đồng – Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 10 năm 2019, Tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Thành mở phiên họp công khai giải quyết việc dân sự thụ ly số 263/2019/TLST-VDS ngày 20 tháng 9 năm 2019 về việc “Yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt nơi cư trú” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 91/2019/QĐST-DS ngày 11 tháng 10 năm 2019, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Anh Đỗ Thành N, sinh năm 1980.

Địa chỉ: Số 82/12/10, ấp B, xã T, huyện N, tỉnh Đồng Nai.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Bà Nguyễn Thị G, sinh năm 1969 và ông Hứa Thái C, sinh năm 1970.

Cùng địa chỉ: Số 24, Hẻm L, khu C, thị trấn L, huyện T, tỉnh Đồng Nai

(Anh N có mặt, bà G, ông C vắng mặt).

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Theo đơn yêu cầu ngày 10 tháng 9 năm 2019, bản tự khai ngày 26 tháng 9 năm 2019 và tại phiên họp ngày 22 tháng 10 năm 2019, người yêu cầu anh Đỗ Thành N trình bày:

Anh và ông Hứa Thái C cùng làm công nhân tại công ty PV & T địa chỉ khu công nghiệp N 1, huyện N, tỉnh Đồng Nai nên quen biết nhau. Trong quá trình làm việc cùng nhau ông C có mời anh về nhà chơi và giới thiệu vợ ông C là bà Nguyễn Thị G, sinh năm 1969 làm nghề nấu suất ăn công nghiệp cơ sở tại nhà. Ông C, bà G hỏi vay của anh số tiền 150.000.000 đồng, anh đồng ý.

Ngày 27/3/2017, anh giao tiền và ký hợp đồng vay tại Phòng công chứng số 4 tỉnh Đồng Nai. Sau khi vay ông C, bà G trả tiền lãi cho anh nhưng không đầy đủ và đúng hẹn theo thỏa thuận.

Từ ngày 01/01/2019 anh không liên lạc được với vợ chồng ông C, bà G và đã tiến hành nhiều lần tìm kiếm nhưng không được nên ngày 23/5/2019 anh làm đơn khởi kiện vợ chồng ông C, bà G tại Tòa án nhân dân huyện Long Thành. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành xác minh địa chỉ của ông C, bà G thì được địa phương cho biết ông C bà G đã bỏ đi khỏi địa phương, không biết hiện nay đang ở đâu.

Nay anh yêu cầu Tòa án thông báo tìm kiếm người vắng mặt nơi cư trú đối với ông Hứa Thái C, sinh năm 1970 và bà Nguyễn Thị G, sinh năm 1969 vắng mặt tại nơi cư trú cuối cùng: Số 24, hẻm L, khu C, thị trấn L, huyện T, Đồng Nai, để anh bổ sung thủ tục khởi kiện trong vụ án tranh chấp hợp đồng vay tài sản.

2. Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành:

Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán trong việc xác định thẩm quyền, thu thập chứng cứ và tiến hành tố tụng đúng quy định. Thẩm phán, Thư ký Tòa án tiến hành tố tụng đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Người yêu cầu đảm bảo quyền lợi và chấp hành pháp luật trong suốt quá trình giải quyết vụ việc.

Về nội dung giải quyết việc dân sự: Đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt nơi cư trú của anh Đỗ Thành N đối với ông Hứa Thái C, sinh năm 1970 và bà Nguyễn Thị G, sinh năm 1969 vắng mặt tại nơi cư trú cuối cùng: Số 24, Hẻm L, khu C, thị trấn L, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của người yêu cầu và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Long Thành nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Ngày 10 tháng 9 năm 2019 anh Đỗ Thành N có đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Hứa Thái C và bà Nguyễn Thị G vắng mặt nơi cư trú. Ông C, bà G có nơi cư trú cuối cùng tại số 24, Hẻm L, khu C, thị trấn L, huyện T, tỉnh Đồng Nai. Yêu cầu của anh N được quy định tại khoản 2 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35 và điểm b khoản 2 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Long Thành.

Về nội dung:

Qua lời trình bày của anh N và biên bản xác minh ngày 11/10/2019 do Công an thị trấn L, huyện T, tỉnh Đồng Nai cung cấp thể hiện ông Hứa Thái C, sinh năm 1970, bà Nguyễn Thị G, sinh năm 1969 có đăng ký hộ khẩu thường trú tại số 24, Hẻm L, khu C, thị trấn L, huyện T, tỉnh Đồng Nai nhưng đã bỏ địa phương đi từ cuối năm 2018 đến nay không có tin tức, không trình báo chính quyền địa phương và hiện tại địa phương cũng không biết họ đang ở đâu, làm gì.

Qua làm với việc mẹ ông C cũng không cung cấp được địa chỉ liên lạc của ông C và bà G.

Quá trình thụ ly việc dân sự Tòa án đã tiến hành thủ tục niêm yết công khai các thông báo và giấy triệu tập của Tòa án nhưng đến nay vẫn chưa nhận được ý kiến nào của ông C, bà G đối với yêu cầu của anh Đỗ Thành N. Theo quy định tại Điều 64 của Bộ luật dân sự quy định: “Khi một người biệt tích 06 tháng trở lên thì những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền yêu cầu Tòa án thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự…”

Như vậy, việc anh N yêu cầu Tòa án ra quyết định thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú đối với ông C, bà G để làm thủ tục bổ sung hồ sơ khởi kiện trong vụ án tranh chấp hợp đồng vay tài sản là có căn cứ chấp nhận.

Về việc quản lý tài sản của người vắng mặt tại nơi cư trú: Anh N không có yêu cầu quản lý tài sản nên không xem xét.

Về lệ phí: Anh Đỗ Thành N phải chịu 300.000 đồng lệ phí việc dân sự sơ thẩm.

Xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành tại phiên họp là có cơ sở, phù hợp với nhận định của Tòa án nên ghi nhận.

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào Điều 64 của Bộ luật dân sự;

- Căn cứ khoản 2 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39, Điều 372, Điều 381, Điều 383, Điều 385 và Điều 386 Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu “Thông báo tìm kiếm người vắng mặt nơi cư trú” của anh Đỗ Thành N đối với ông Hứa Thái C và bà Nguyễn Thị G.

Tuyên bố ông Hứa Thái C, sinh năm 1970 và bà Nguyễn Thị G, sinh năm 1969 vắng mặt tại nơi cư trú cuối cùng số 24, Hẻm L, khu C, thị trấn L, huyện T, tỉnh Đồng Nai kể từ ngày 01/01/2019 đến nay.

Việc quản lý tài sản của người vắng mặt tại nơi cư trú: Không xét.

2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Anh Đỗ Thành N phải chịu 300.000 đồng tiền lệ phí giải quyết việc dân sự nhưng được trừ vào tiền tạm ứng lệ phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0002555 ngày 19/9/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Thành (anh N đã nộp đủ).

3. Anh Đỗ Thành N có quyền kháng cáo quyết định này trong hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Ông Hứa Thái C, bà Nguyễn Thị G có quyền kháng cáo quyết định này trong hạn 10 ngày kể từ ngày tống đạt hợp lệ quyết định. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị trong thời hạn 10 ngày,Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định (ngày 22/10/2019).

Quyết định này đương nhiên hết hiệu lực khi ông Hứa Thái C và bà Nguyễn Thị G trở về.

Cỡ chữ