vanban.org

Quyết định 16/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: Khoản 1 Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Chị Đỗ Thị Thu H ly hôn anh Nguyễn Xuân T. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Minh K, sinh ngày 07/11/2016, cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm hoãn việc đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung cho anhT đến khi chị H có yêu cầu. Anh T được quyền th¨m nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: Khoản 1 Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THẠCH THẤT
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:16/2018/HNGĐ-ST
Ngày: 18 /7/ 2018
V/v:Ly hôn; tranh chấp nuôi con;

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN huyÖn Th¹ch ThÊt - thµnh phè Hµ néi

- Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Thuỷ

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Mai

2. Ông Đặng Văn Tần

Thư ký phiên tòa: Nguyễn Thị Hà, Thẩm tra viên, Tòa án nhân dân huyện Thạch Thất;

Đại diện Viện Kiểm Sát nhân dân huyện Thạch Thất tham gia phiên tòa: Bà Vi Thị Ngọc Kim - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 7 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 112/2018/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 5 năm 2018, về việc ly hôn; tranh chấp nuôi con, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15/2018/QĐXX-HNGĐ ngày 03 tháng 7 năm 2018, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Đỗ Thị Thu H, sinh năm 1992; Có mặt;

Nơi cư trú: Khu S , xã T, huyện C , tỉnh P;

Bị đơn: Anh Nguyễn Xuân T, sinh năm 1993; Có mặt;

Nơi cư trú: Thôn 9, xã H, huyện T, thành phố H;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và quá trình tố tụng, chị Đỗ Thị Thu H trình bày như sau:

Chị Đỗ Thị Thu H và anh Nguyễn Xuân T tự nguyện kết hôn ngày 26/3/2016 và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Hạ Bằng, huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội. Sau khi kết hôn được một thời gian thì vợ chồng xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhà là do hai vợ chồng không có Tg nói chung, không chia sẻ về kinh tế, vợ chồng cãi nhau anh T có đánh chị H . Từ đó dẫn đến vợ chồng mâu thuẫn căng thẳng, chị H đã hai lần bỏ về quê ngoại để ở, mặc dù đã được hai bên nội ngoại hòa giải nhưng tình trạng mâu thuẫn vợ chồng không cải thiện mà ngày càng căng thẳng hơn. Nay chị H xác định tình cảm vợ chồng không còn nên chị yêu cầu được ly hôn anh T.

Về con chung: Vợ chồng có một con chung là cháu Nguyễn Minh K, sinh ngày 07/11/2016 hiện nay cháu đang do anh T và gia đình nuôi dưỡng. Nay ly hôn chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn là anh Nguyễn Xuân T trình bày: Anh và chị H tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Hạ Bằng, huyện Thạch Thất. Quá trình chung sống vợ chồng có mâu thuẫn, chị H đã hai lần bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở. Tuy nhiên, anh T cho rằng mâu thuẫn vợ chồng không lớn, vẫn còn khả năng đoàn tụ nên anh không đồng ý ly hôn.

Về con chung: Vợ chồng có một con chung là cháu Nguyễn Minh K, sinh ngày 07/11/2016 hiện nay cháu đang do anh và gia đình nuôi dưỡng. Nếu tòa án giải quyết cho vợ chồng ly hôn thì anh yêu cầu được nuôi con chung. Vì hiện nay cháu đang có cuộc sống ổn định cùng anh và gia đình. Chị H tự ý bỏ nhà đi không quan tâm gì đến con, hiện không có công việc ổn định nên anh không yêu tâm giao con cho chị H nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Các tài liệu, chứng cứ của vụ án: B¶n chính đăng ký kết hôn; Bản sao chứng minh thư nhân dân của chị H , anh T, bản sao sổ hộ khẩu, bản sao giấy khai sinh của con chung, biên bản xác minh tình trạng hôn nhân.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát:

Về việc thực hiện tố tụng của Toà án: Quá trình tố tụng từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử Thẩm phán đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dan sự. Tại phiên toà hôm nay Hội đồng xét xử thực hiện đúng trình tự thủ tục của phiên toà sơ thẩm.

Về việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử, nguyên đơn, bị đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình tại quy định Điều 70 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Chị Đỗ Thị Thu H và anh Nguyễn Xuân T kết hôn hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng không hạnh phúc do không có Tg nói chung. Nay chị H xác định tình cảm vợ chồng không còn nên chị yêu cầu được ly hôn anh T, anh T cho rằng vẫn còn khả năng đoàn tụ nên anh không đồng ý ly hôn. Tuy nhiên, thực tế mâu thuẫn vợ chồng không cải thiện được, Tòa án đã hoà giải nhiều lần nhưng chị H vẫn kiên quyết xin ly hôn và anh T cũng không có biện pháp gì để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Điều đó chứng tỏ quan hệ hôn nhân giữa chị H và anh T đã trầm trọng, đời sống chùng không thể hàn gắn được nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị H , xử chị H ly hôn anh T.

Về con chung: Vợ chồng có một con chung là cháu Nguyễn Minh K, sinh ngày 07/11/2016 hiện nay cháu đang do anh T và gia đình nuôi dưỡng. Nay ly hôn cả chị H , anh T đều có đủ điều kiện nuôi con và đều có nguyện vọng được nuôi con. Tuy nhiên, hiện nay cháu Khoa còn nhỏ dưới 36 tháng tuổi nên đề nghị Hội đồng xét xử giao cho chị H trực tiếp chăm sóc là phù hợp với quy định tại khoản 3 Điều 81 luật Hôn nhân và gia đình.

Về tài sản chung: Chị H , anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên toà, kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1].Về tố tụng: Anh Nguyễn Xuân T cư trú tại xã Hạ Bằng, huyện Thạch Thất, Thành phố Hà Nội nên chị Đỗ Thị Thu H khởi kiện yêu cầu Toà án nhân dân huyện Thạch Thất giải quyết ly hôn là đúng thẩm quyền theo Điều 28 và Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2].Về quan hệ hôn nhân: Chị Đỗ Thị Thu H và anh Nguyễn Xuân T kết hôn hợp pháp. Quá trình chung sống không hạnh phúc, không có Tg nói chung, không chia sẻ về kinh tế. Từ đó dẫn đến vợ chồng mâu thuẫn căng thẳng, chị H đã hai lần bỏ về quê ngoại để ở, mặc dù đã được hai bên nội ngoại hòa giải nhưng tình trạng mâu thuẫn vợ chồng không cải thiện mà ngày càng căng thẳng hơn và vợ chồng đã sống ly thân. Nay chị H xác định tình cảm vợ chồng không còn nên chị yêu cầu được ly hôn anh T. Bản thân anh T cũng thừa nhận vợ chồng có mâu thuẫn nhưng cho rằng vẫn còn khả năng đoàn tụ nên anh không đồng ý ly hôn.

Xét tình trạng hôn nhân giữa chị H và anh T là trầm trọng, đời sống chung không cßn tån t¹i, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu của chị H , cho chị được ly hôn anh T phù hợp với điều Điều 51, §iÒu 56 và Điều 57 luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

[3]. Về con chung: Vợ chồng có một con chung là cháu Nguyễn Minh K, sinh ngày 07/11/2016 hiện nay cháu đang do anh T và gia đình nuôi dưỡng. Nay ly hôn chị H và anh T đều có nguyện vọng nuôi cháu. Xét điều kiện của anh T, chị H đều bảo đảm cho việc nuôi dưỡng con chung. Tuy nhiên, hiện nay cháu Khoa còn nhỏ dưới 36 tháng tuổi nên cần giao cho chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là có căn cứ, phù hợp với khoản 3 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[4].Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị H không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung nên tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho anh T đến khi chị H có yêu cầu.

[5].Về tài sản, công sức, nợ chung: Chị H , anh T không yêu cầu Toà án giải quyết.

[6].Về án phí: Chị Đỗ Thị Thu H phải chịu 300.000đ án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng: Khoản 1 Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ khoản 4 Điều 147; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Xử:

1. Chị Đỗ Thị Thu H ly hôn anh Nguyễn Xuân T.

2.Về con chung: Giao cháu Nguyễn Minh K, sinh ngày 07/11/2016, cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm hoãn việc đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung cho anhT đến khi chị H có yêu cầu. Anh T được quyền th¨m nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở.

3.Về tài sản chung: Chị H , anh T không yêu cầu Toà án giải quyết.

4.Về án phí: Chị Đỗ Thị Thu H phải chịu 300.000đ án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm, được trừ vào 300.000đ đã nộp theo biên lai số 0000901 ngày 24/5/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạch Thất.

5.Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự:

Chị Đỗ Thị Thu H và anh Nguyễn Xuân T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể ngày tuyên án.

Tm. Héi ®ång xÐt xö s¬ thÈm N¬i nhËn:

ThÈm ph¸n - Chñ täa phiªn

- Toµ ¸n nh©n d©n TP Hµ Néi;

tßa

- THADS huyÖn Th¹ch ThÊt;

- VKSND huyÖn Th¹ch ThÊt;

- UBNDxã Hạ Bằng, huyÖn Th¹ch ThÊt.

- C¸c ® ¬ng sù;

- L u HS, VP.

Nguyễn Thị Thu Thuỷ Các Hội thẩm nhân dân

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Cỡ chữ